• No products in the cart.

  • LOGIN

nobel vật lý 1976

nobel vật lý 1976

Burton Richter (1931-)

và Samuel Chao Chung Ting (1936-)

Giải Nobel Vật lý năm 1976 được trao cho giáo sư người Mỹ Burton Richter tại Trung tâm máy gia tốc thẳng Stanford ở Stanford (bang California, Mỹ) và giáo sư  người Mỹ gốc Trung Quốc Samuel Chao Chung Ting tại Viện Công nghệ Massachusetts ở Cambridge (bang Massachusetts, Mỹ) “do những công trình tiên phong của họ trong việc phát minh ra một loại hạt cơ bản nặng mới”.

Giải Nobel năm 1976 được trao cho các phát minh trong việc khám phá ra các thành phần nhỏ nhất của vật chất và nhỏ hơn các nguyên tử và các hạt nhân của chúng. Theo định luật Einstein về mối quan hệ giữa năng lượng và khối lượng E = =mc2 để phát sinh ra hạt nặng đòi hỏi có động năng lớn. Hơn nữa, năng lượng cần phải tập tring. Hai thực nghiệm liên quan đến Giải Nobel năm 1976 được tiến hành độc lập với nhau tại hai máy gia tốc hạt cơ bản lớn nhất thế giới. Ting và cộng sự đã xây dựng thiết bị của họ gắn với máy proton tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven. Máy gia tốc là một thiết bị với đường kính khoảng 200 mét và thiết bị đo do nhóm của Ting thiết kế chế tạo dài 15 mét. Thiết bị của Richter và cộng sự gắn với máy gia tốc điện tử thẳng có chiều dài 3 km tại Trung tam máy gia tốc thẳng Stanford. Với kích thước như thế, thiết bị của Richter không thể đặt được trong nhà. Khi khám phá đối tượng nhỏ cần phải có các kính hiển vi lớn. Cần phải có các thiết bị lớn nhất để phát hiện các phần vật chất nhỏ nhất.

Thiết bị do nhóm của Richter sử dụng là một loại vòng nhớ (storage ring hay carousel) trong đó một dòng của các electron và một dòng của các positron đi vòng quanh theo các hướng ngược nhau với các vận tốc rất cao và có thể được điều chỉnh một cách chính xác. Trong các va mặt, toàn bộ năng lượng của một electron và một positron va chạm về nguyên tắc có thể sinh ra một hạt rất nặng đứng yên mà người ta hi vọng biến nó thành một số các hạt khác bằng sự phân rã trong một khoảng thời gian rất ngắn. Bất kỳ điều gì giống như thế đều có thể xảy ra khác với ở các năng lượng thấp mà ở đó tồn tại các hạt cơ bản nhẹ đã biết. Do đó, chương trình nghiên cứu tập trung vào việc theo dõi một đường rất lý thú và có ý nghĩa trong một máy dò từ được chế tạo đặc biệt lúc đầu tại Frascati (Italia) và tiếp tục tại Cambridge (Mỹ). Việc phát hiện ra hạt mới là bất ngờ và gây ấn tượng mạnh mẽ mặc dù nó đã được dự đoán từ những năm lập kế goạc và chuẩn bị. Vận tốc tại các va mặt có thể được điều chỉnh tới hơn một nghìn giá trị khác nhau. Hạt mới xuất hiện chỉ tại một trong các giá trị đó. Ngày 10 tháng 11 năm 1974 nhóm của Richter đã thiết lập vận tốc chính xác và phát hiện thấy rằng một lượng khổng lồ các va chạm đã sinh ra hạt mới gọi là psi. Điều đáng chú ý nhất là hạt psi biến đổi chậm không lường trước được hay nói cách khác nó sống lâu hơn khoảng một nghìn lần so với thời gian sống mà người ta dự tính.

Thí nghiệm của Ting được tiến hành khác hẳn. Các proton với vận tốc cao được phép va chạm với một vùng bia berili đứng yên. ở đây hướng mồi lửa (firing) quan trong hơn việc thiết lạp vận tốc. Nhóm của Ting hi vọng tìm được các hạt nặng mới mà chúng được biến đổi thành hai hạt khác là một electron và một positron. Ting và các cộng sự trong nhiều năm liền đã đạt được danh hiệu vô địch thế giới trong lĩnh vực này liên quan đến việc nghiên cứu làm thế nào để các hạt “cha mẹ” nhẹ đã biết rõ có thể sinh ra các cặp “con gái” electron và positron. Từ các phép đo đối với các “con gái” bay nhanh có thể tính được các tính chất của hạt “cha mẹ”. Khó khăn là việc phân loại một số rất ít các cặp con gái từ một tập hợp hàng triệu các hạt khác. Thiết bị do nhóm của Ting chế tạo rất lớn, gồm nhiều chi tiết tinh vi và nằm bên trong hàng tấn thiết bị bảo vệ bức xạ. Hạt “cha mẹ” nặng mới được tạo ra trong các va chạm và nó được đặt tên là hạt J.

NgàY 11 tháng 11 năm 1974 Richter và Ting gặp nhau tại Trung tâm mày gia tốc thẳng Stanford và phát hiện thấy rằng hai nhóm nghiên cứu phát minh ra cùng một hạt. Thông báo của họ xuất hiện ngay trên các tạp chí khoa học trong vòng một tuần. Một thời gian ngắn sau đó, phát minh này được xác nhận lúc đầu tại Frascati (Italia) và sau đó tại synchrotron ở Humburg (Đức).

Các hạt cơ bản chưa phải là thành phần nhỏ nhất của vật chất và chúng được cấu tạo từ các quark. Hiện nay người ta đã phát hiện được ba loại quark. Để hiểu được cấu tạo của hạt psi mới theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu chắc chắn rất cần đến một loại quark thứ tư.

Các hạt cơ bản rất nhỏ so với kích thước cơ thể chúng ta. Chúng nhỏ hơn các virut, phân tử, nguyên tử và thậm chí nhỏ hơn hạt nhân của hầu hết các nguyên tử. Chúng đặc biệt quan trọng để hiểu được cấu trúc cơ bản và các lực cơ bản của thế giới vật chất. Trong một số trường hợp, thậm chí chúng có thể đóng vai trò quan trọng đối với xã hội. Một triết lý cơ bản cho rằng các đơn vị vật chất trên bất kỳ mức chia nhỏ nào đều có những tính chất xác định từ các mức dưới.

Hạt cơ bản đầu tiên do J. J. Thomson phát hiện là electron nó và đưa ông đến Giải Nobel Vật lý năm 1906. Thomson nói phát minh electron của ông là một trong những viên gạch dựng lên các nguyên tử. Hiện nay chúng ta đều biết rằng electron đóng một vai trò quyết định trong nhiều ngành khoa học và công nghệ và thông qua chúng trong nhiều ngành nghề.

Carl David Anderson được trao Giải Nobel Vật lý năm 1936 do ông phát hiện ra phản hạt của electron là positron. Cặp electron và positron có thể sinh ra từ năng lượng của bức xạ. Điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Nếu hai loại hạt ngược nhau va chạm với nhau, chúng có thể biến mất và năng lượng của chúng tạo thành bức xạ. Chỉ trong những năm gần đây, sự mô tả này trở nên sâu sắc hơn thông qua các thực nghiệm ở các năng lượng cao của nhiều nhà nghiên cứu trong đó có Richter và Ting.

Ting đã phát hiện ra hạt mới khi ông nghiên cứu xem cặp electron và positron được sinh ra như thế nào ở các năng lượng rất cao. Richter bố trí để các electron và positron gặp nhau trong các va mặt và hạt mới sinh ra khi ông đáp ứng các điều kiện cần thiết.Cả hai nhóm của Richter và Ting tiến hành nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm với các máy gia tốc hạt lớn. Nhóm của Ting từ Viện Công nghệ Massachusetts đã chế tạo ra một thiết bị đặc biệt tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven. Nhóm của Richter từ Stanford và Berkeley đã xây dựng phức hệ thiết bị tinh vi của họ tại Trung tâm máy gia tốc thẳng Stanford. Trong hai phòng thí nghiệm khác nhau và bằng các phương pháp rất khác nhau cả hai nhóm gần như đồng thời tìm được một tín hiệu rõ ràng là một hạt nặng mới sinh ra trong các va chạm mạnh và mất đi một thời gian ngắn sau đó. Hạt này được đặt tên là J ở Brookhaven và y(psi) ở Stanford.

Điều độc nhất vô nhị về hạt J-ylà nó không thuộc về bất kỳ họ hạt cơ bản nào đã biết trước năm 1974. Các hạt phát hiện được sau đó giống như hạt J-y. Việc đánh giá lại các cấu trúc đòi hỏi hiện nay đối với họ hạt cơ bản cũng đã bắt đầu theo một kích thước mới tương ứng với quark thứ tư.

Burton Richter sinh ngày 22 tháng 3 năm 1931 tại New York (Mỹ) và là con cả của Abraham và Fanny Richter. Năm 1948 ông vào học Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Người có ảnh hưởng lớn nhất trong thời sinh viên của ông là giáo sư Francis Friedman. Friedman đã làm cho ông nhận ra vẻ đẹp của vật lý. Trong thời gian học đại học, Richter bắt đầu nghiên cứu với giáo sư Francis Bitter tại phòng thí nghiệm từ của MIT. Ông làm quen với hệ electron-positron và làm việc bán thời gian với giáo sư Martin Deutsch. Deutsch khi đó đang nghiên cứu các thực nghiệm positroni cổ điển của mình bằng cách sử dụng một nam châm lớn tại phòng thí nghiệm của Bitter. Theo hướng của Bitter, Richter đã hoàn thành luận án của mình về hiệu ứng Zeeman tứ cực trong hyđro.

Năm 1952 Richter vào học sau đại học tại MIT và tiếp tục nghiên cứu với nhóm của Bitter. Lúc đầu, ông nghiên cứu phép đo về độ dịch chuyển đồng vị và cấu trúc tế vi đối với các đồng vị của thủy ngân. Công việc của ông là chế tạo ra đồng vị thủy ngân 197 có thời gian sống tương đối ngắn khi sử dụng xyclotron của MIT để bắn phá vàng với một chùm đơtron. Ông quan tâm đến các vấn đề hạt nhân, vật lý hạt cơ bản và máy gia tốc nhiều hơn so với chủ đề chính của thí nghiệm. Richter để sáu tháng nghiên cứu máy gia tốc proton 3 GeV tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven để xem xem ông có thực sự muốn nghiên cứu vật lý hạt cơ bản hay không? Sau đó, ông quay trở lại nghiên cứu tại phòng thí nghiệm syncrotron của MIT. Đây là một cơ sở đào tạo tuyệt vời đối với sinh viên vì họ không chỉ có thể thiết kế và chế tạo ra thiết bị cần thiết cho thí nghiệm mà còn tham gia bảo hành và điều khiển máy gia tốc. Luận án tiến sĩ của Richter được hoàn thành tại đây với đề tài về sự phát sáng (photoproduction) của các pi meson từ hyđro và do tiến sĩ L. S. Osborne hướng dẫn.

Trong thời gian làm việc tại phòng thí nghiệm syncrotron, Richter bắt đầu quan tâm đến lý thuyết điện động lực lượng tử và sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ ông muốn nghiên cứu dáng điệu của tương tác điện từ ở phạm vi gần. Vì thế, ông quyết định đến làm việc tại Phòng thí nghiệm năng lượng cao ở Stanford mà ở đó có một máy gia tốc electron thẳng 700 MeV. Thực nghiệm đầu tiên của ông ở đó là nghiên cứu cặp electron-positron bởi tia gamma và ông đã chứng minh được rằng điện động lực lượng tử là đùng cho đến khoảng cách chừng 10-13 cm.

Năm 1960 Richter cưới vợ là Laurose Becker và vợ chồng ông có hai con là Elizabeth (sinh năm 1961) và Matthew (sinh năm 1963).

Năm 1957 G. K O’Neill ở Princeton đã đề xuất xây dựng một thiết bị chùm va chạm và thiết bị này sử dụng máy gia tốc thẳng (linac) của Phòng thí nghiệm vật lý năng lượng cao (HEPL) ở Stanford làm một bộ tiêm (injector). Thiết bị chùm va chạm cho phép nghiên cứu tán xạ electron-electron ở năng lượng cao hơn mười lần so với năng lượng trong thí nghiệm của Richter. Richter đã làm việc với O’Neill và cùng với W. C. Barber, B. Gittelman bắt đầu xây dựng thiết bị chùm va chạm đầu tiên. Họ phải mất khoảng sáu năm để có chùm tia thích hợp. Thiết bị này là “ông tổ” của tất cả các vòng cất giữ (storage ring) chùm va chạm sau này. Kỹ thuật sử dụng trong thiết bị chùm va chạm có tác dụng lớn đến mức tất cả các máy gia tốc của vật lý năng lượng cao hiện nay đều là các thiết bị chùm va chạm.

Năm 1965 thực nghiệm do nhóm của Richter tiến hành trên thiết bị do họ tự chế tạo đã chứng minh rằng giá trị của điện động lực lượng tử được mở rộng xuống dưới khoảng cách 10-14cm.

Thậm chí trước khi vận hành vòng lưu trữ chùm va chạm tại HEPL, Richter bắt đầu suy nghĩ đến một thiết bị chùm va chạm electron-positron ở năng lượng cao và tính xem nhờ nó người ta có thể nghiên cứu cái gì. Đặc biệt Richter muốn nghiên cứu cấu trúc của các hạt tương tác mạnh. Năm 1963 ông chuyển đến Trung tâm máy gia tốc thẳng Stanford (SLAC) và ở đó nhờ sự khuyến khích của giám đốc SLAC là W. K. H. Panofsky ông thành lập một nhóm nghiên cứu nhằm thiết kế giai đoạn cuối cho máy electron-positron ở năng lượng cao. Nhóm của Richter đã hoàn thành một bản thiết kế sơ bộ vào năm 1964 và gửi đề nghị xin tài trợ kinh phí của ủy ban Năng lượng nguyên tử vào năm 1965. Đó là sự mở đầu cho một cuộc đấu tranh lâu dài nhằm tìm được nguồn kinh phí chế tạo thiết bị. Trong giai đoạn này, nhóm của Richter đã thiết kế và chế tạo phức hệ quang phổ kế từ tại SLAC và sử dụng nó để tiến hành một loạt các thực nghiệm phát sáng pi-meson và K-meson. Tuy nhiên, trong suốt thời gian này ông tập trung vào vấn đề vòng lưu trữ và duy trì sự tồn tại của nhóm thiết kế. Cuối cùng năm 1970 , nhóm của ông đã nhận được kinh phí chế tạo vòng lưu trữ (về sau gọi là SPEAR) cũng như một máy dò từ lớn. Năm 1973 nhóm của Richter bắt đầu tiến hành các thực nghiệm trên các thiết bị này và chính các thực nghiệm này đã đưa ông đến Giải Nobel.

Trong năm học 1975-1976 Richter đến làm việc tại CERN ở Geneva. ở đó ông  tiến hành thực nghiệm trên các vòng lưu trữ proton 30 GeV của CERN và phát hiện ra qui luật định thang năng lượng (energy scaling) chung cho các vòng lưu trữ chùm va chạm electron-positron ở năng lượng cao. Ông giải quyết các bài toán tổng quát và đặc biệt quan tâm đến các thông số của một máy va chạm ở khoảng năng lượng 100-200 GeV. Ông cho rằng khoảng năng lượng này là cần thiết để hiểu tốt hơn tương tác yếu và mối liên hệ của nó với tương tác điện từ. Nghiên cứu này đã được đưa vào thiết kế của dự án LEP  có chu vi 27 km tại CERN.

Các qui luật định thang năng lượng chung cho các vòng cất giữ chỉ ra rằng kích thước và giá thành của các thiết bị như vậy tăng theo bình phương của năng lượng. LEP mặc dù rất lớn về kích thước nhưng nó khả thi về mặt tài chính. Tuy nhiên, không thể có một thiết bị có năng lượng lớn hơn mười lần năng lượng của LEP. Richter bắt đầu nghĩ đến các cách tiếp cận lựa chọn với các qui luật định thang thuận lợi hơn và sớm tập trung vào ý tưởng của một máy va chạm thẳng mà ở đó các chùm electron và positron từ các các máy gia tốc thẳng tách rời được va chạm liên tục với nhau nhằm tạo ra các tương tác ở năng lượng cao. Chìa khóa để đạt được tốc độ phản ứng thích hợp cho nghiên cứu ở năng lượng cao là làm cho chùm cực nhỏ tại điểm tương tác và nhỏ hơn nhiều bậc độ lớn về diện tích so với các chùm va chạm trong các vòng cất giữ.

Năm 1978 nhóm của Richter bắt đầu nghiên cứu khả năng chuyển máy gia tốc thẳng dài 2 dặm của SLAC thành máy va chạm thẳng. Nó sẽ là một loại máy lai ghép với các chùm electron và positron được gia tốc trong cùng một máy gia tốc thẳng và với một loạt các nam châm ở phần cuối để tách hai chùm và đưa chúng quay ngược trở lại vao các va mặt. Các chùm cần có bán kính khoảng 2 micron tại điểm va chạm và có diện tích nhỏ hơn 1000 lần diện tích của các chùm va chạm trong một vòng cất giữ. Việc xây dựng máy va chạm thẳng của SLAC bắt đầu vào năm 1983 và kết thúc vào năm 1987. Các thực nghiệm vật lý đầu tiên trên thiết bị này bắt đầu vào năm 1990. Có thể đóng góp bền vững nhất mà thiết bị này đem lại cho vật lý hạt cơ bản sẽ là công trình về vật lý máy gia tốc và động lực chùm được thực hiện trên thiết bị này. Công trình này sẽ tạo ra cơ sở cho chương trình nghiên cứu và triển khai hướng tới các máy va chạm thẳng ở năng lượng cỡ TeV trong tương lai. Chương trình này đã được Mỹ, châu Âu, Liên Xô (trước đây) và Nhật Bản theo đuổi.

Richter là giám đốc kỹ thuật (từ 1982 đến 1984) và giám đốc (từ 1984 đến nay) của SLAC.

Samuel Chao Chung Ting sinh ngày 27 tháng 1 năm 1936 tại Ann Arbor (bang Michigan, Mỹ). Ông là con cả trong số ba người con của giáo sư kỹ thuật Kuan Hai Ting và giáo sư tâm lý Tsun-Ying Wang. Cha mẹ ông hi vọng rằng ông sẽ được sinh ra ở Trung Quốc nhưng vì mẹ ông đẻ non trong khi cha mẹ ông đang ở thăm Mỹ nên ông trở thành công dấn Mỹ. Hai tháng sau khi sinh ông, ông cùng với cha mẹ mình quay trở lại Trung Quốc. Do điều kiện thời chiến Ting không được đến trường cho đến khi ông 12 tuổi. Do công việc của cha mẹ ông luôn luôn gắn liền với các trường đại học, ông có cơ hội tiếp xúc với nhiều học giả nổi tiếng mà họ thường đến thăm cha mẹ ông. Có lẽ do ảnh hưởng sớm này ông luôn luôn có mong muốn gắn bó cuộc sống của mình với trường đại học. Do cha mẹ bận bịu với công việc, ông sống với bà ngoại. Ông ngoại ông mất trong cuộc cách mạng Trung Quốc lần thứ nhất. ở tuổi 33, bà ngoại ông quyết định đến trường, trở thành giáo viên và một mình nuôi dạy mẹ ông. Khi ông còn bé, ông thường nghe mẹ và bà ngoại của mình kể về cuộc sống khó khăn mà họ trải qua trong một thời kỳ hỗn loạn và những cố gắng của họ để giúp mẹ của ông có một học vấn đầy đủ. Bà ngoại và mẹ của ông là những người táo bạo, độc đáo, kiên định và họ để lại cho ông một ấn tượng khó phai mờ.

Khi Ting 20 tuổi, Ting quyết định quay trở lại nước Mỹ để có điều kiện học tập tốt hơn. Một người bạn của cha mẹ Ting là G. G. Brown – trưởng Khoa Kỹ thuật của Đại học Michigan đã đồng ý nuôi dạy Ting. Khi đó, Ting biết rất ít tiếng Anh và không biết nhiều về sinh hoạt ở Mỹ. ở Trung Quốc, Ting nghe nói rằng nhiều sinh viên Mỹ được đến trường đại học là nhờ tài xoay sở của họ. Ting nói với cha mẹ mình rằng Ting cũng sẽ làm như thế. Ting đến sân bay Detroit vào ngày 6 tháng 9 năm 1956 với vỏn vẹn số tiền trong túi là 100 đô la Mỹ mà lúc đó số tiền này dường như quá đủ đối với ông. Ông cảm thấy hơi sợ hãi vì không biết bất cứ người nào và lại khó giao tiếp.

Do Ting phụ thuộc vào học bổng cho việc học tập của mình nên ông phải làm việc rất vất vả để duy trì học bổng. Bằng cách này hay cách khác, Ting đã nhận được các bằng tốt nghiệp đại học cả ngành toán học lẫn ngành vật lý của Đại học Michigan trong vòng ba năm và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ vật lý với sự hướng dẫn của các tiến sĩ L. W. Jones và M. L. Perl vào năm 1962.

Ting đến làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu CERN theo học bổng của Liên đoàn Ford. ở đó, Ting có may mắn cùng làm việc với Giuseppe Cocconi về sincrotron proton và học được nhiều kiến thức vật lý từ ông ấy. Cocconi luôn luôn có một cách nhìn đơn giản đối với một bài toán phức tạp, tiến hành thực nghiệm rất cẩn trọng và gây ấn tượng sâu sắc đối với Ting.

Mùa xuân năm 1965, Ting quay trở lại Mỹ để giảng dạy tại Đại học Columbia. Trong những năm đó, khoa Vật lý của Đại học Columbia tập trung nhiều nhà khoa học xuất sắc như L. Lederman, T. D. Lee, I. I. Rabi, M. Schwarts, J, Steinberger, C. S. Wu và nhiều người khác nữa. Tất cả những người này đều có phong cách riêng và khả năng vật lý đặc biệt. Ting đã thu hoạch được nhiều bài học bổ ích trong thời gian ngắn lưu lại Columbia.

Trong năm thứ hai của Ting ở Columbia có một thực nghiệm trên máy gia tốc electron Cambridge về sự sinh cặp electron – positron do sự va chạm của photon với bia hạt nhân. Dường như thực nghiệm này chỉ ra sự vi phạm điện động lực lượng tử. Ting nghiên cứu kỹ thực nghiệm này và quyết định lặp lại nó. Ting đã trao đổi với G. Weber và W. Jentschke về khả năng tiến hành thực nghiệm sinh cặp tại sincrotron electron DESY ở Hamburg (Đức). Những người này rất ủng hộ và khuyến khích Ting bắt đầu ngay công việc đó. Tháng 3 năm 1966 Ting rời Đại học Columbia để thực hiện nghiên cứu sinh cặp tại DESY ở Hamburg. Từ đó, Ting tập trung mọi nỗ lực của mình cho việc nghiên cứu vật lý của các cặp electron hoặc muon, điện động lực lượng tử, sự sinh và phân rã của các hạt kiểu photon, và tìm kiếm các hạt mới mà chúng phân rã thành các cặp electron hoặc muon. Các kiểu thực nghiệm này được đặc trưng bởi sự cần thiết phải có một dòng tới có cường độ cao, khả năng loại bỏ cao chống lại một số lớn các biến cố nền không mong muốn và đồng thời sự cần thiết phải có một máy dò với độ phân giải khối lượng tốt.

Để tìm kiếm các hạt mới có khối lượng lớn hơn, Ting đưa nhóm nghiên cứu của mình quay trở lại Mỹ vào năm 1971 và bắt đầu làm thực nghiệm tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven. Mùa thu năm 1974, nhóm của Ting đã tìm ra bằng chứng về một hạt nặng mới hoàn toàn chưa được dự đoán trước đó và đặt tên nó là hạt J. Từ đó, người ta đã phát hiện ra toàn bộ họ của các hạt mới.

Năm 1969 Ting bắt đầu làm việc cho Phòng Vật lý của Viện Công nghệ Masachusetts (MIT). Năm 1977 ông được bổ nhiệm làm giáo sư vật lý đầu tiên của Viện Thomas Dudley Cabot của MIT. Trong những năm sau đó, ông cùng phối hợp nghiên cứu với M. Deutsch, A. G. Hill, H. Feshbach, W. Jentschke, h. Schopper và G. Weber. Ting thích làm việc với nhiều nhà vật lý trẻ rất nổi tiếng như U. Becker, J. Burger, M. Chen, R. Marshall và A. J. S. Smith.

Năm 1985 Ting cưới vợ là tiến sĩ Susan Marks và vợ chồng ông có một con trai là Christopher (sinh năm 1986). Ông còn có hai con gái là Jeanne và Amy từ người vợ trước.

Samuel Chao Chung Ting đã được trao tặng Giải thưởng Ernest Orlando Lawrence (1976) từ chính phủ Mỹ, Giải thưởng Khoa học DeGasperi (1988) từ chính phủ Italia, Huy chương Eringen (1977) từ Hội Khoa học kỹ thuật, Giải thưởng Vàng Leopard (1988) của thành phố Taormina (Italia), Huy chương Vàng vì Khoa học và Hòa bình (1988) của thành phố Brescia (Italia). Ông là hội viên Hội Vật lý Mỹ, Hội Vật lý Italia và Hội Vật lý châu Âu. Giáo sư Ting là viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Pakistan và Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (bây giờ là Viện Hàn lâm Khoa học Nga). Ông là tiến sĩ danh dự của Đại học Michigan, Đại học Hong Kong, Đại học Columbia, Đại học Bologna, Đại học Quốc gia Moscow, Đại học Khoa học và Công nghệ ở Trung Quốc và giáo sư danh dự Đại học Jiatong ở Thượng Hải (Trung Quốc).

Tác giả bài viết: PGS. TS. Nguyễn Quang Học

February 12, 2012

0 responses on "nobel vật lý 1976"

Leave a Message

Your email address will not be published.

inPhysic is an online education site which imparts knowledge and skills to million of users worldwide.

280 an dương vương, phường 4 quận 5,  Hồ Chí Minh
0976 905 317
[email protected] | [email protected] | [email protected]

Top Categories

january, 2021

No Events

top
X