• No products in the cart.

  • LOGIN

nobel vật lý 1974

nobel vật lý 1974

Martin Ryle (1918-1984)

và Antony Hewish (1924-)

Giải Nobel Vật lý năm 1974 được trao cho các giáo sư người Anh Martin Ryle và Antony Hewish tại Đại học Cambridge ở Cambridge (Anh) “do nghiên cứu mang tính tiên phong của họ trong vật lý thiên văn vô tuyến: Ryle do những quan sát và phát minh của ông, đặc biệt là kỹ thuật tổng hợp lỗ ống kính (aperture) và Hewish do vai trò quyết định của ông trong phát minh ra các sao punxa”.

Martin Ryle sinh ngày 27 tháng 9 năm 1918 và là con thứ hai trong một gia đình có năm người con. Cha ông là John A. Ryle và là một bác sĩ. Sau chiến tranh, cha ông là giáo sư y  học xã hội đầu tiên của Đại học Oxford.

Ryle học ở Cao đẳng Bradfield và Đại học Oxford và ông tốt nghiệp đại học vào năm 1939. Trong những năm chiến tranh, ông tham gia nghiên cứu phát triển rađa và và các hệ thông vô tuyến khác cho lực lượng không quân Hoàng gia Anh. Mặc dù ông học được nhiều từ thực tế kỹ thuật và những người hiểu biết, ông nhanh chóng quên hầu hết kiến thức vật lý mà ông học được ở trường đại học.

Năm 1945, J. A. Ratcliffe – người đứng đầu nhóm nghiên cứu tầng điện ly tại Phòng thí nghiệm Cavendish ở Cambridge trước chiến tranh đã đề nghị Ryle làm việc cùng với nhóm này để bắt đầu nghiên cứu sự phát vô tuyến từ Mặt Trời. Gần đây người ta đã phát hiện thấy sự phát vô tuyến này một cách tình cờ nhờ thiết bị rađa.

Trong nhiều năm, Ryle nhận được sự hỗ trợ của Ratcliffe và giáo sư Lawrence Bragg ở Cambridge. Nghiên cứu riêng của Bragg về tinh thể học tia X bao hàm các kỹ thuất rất giống với các kỹ thuật mà Ratclffe và Ryle đang nghiên cứu cho việc “tổng hợp lỗ ống kính” và Bragg rất quan tâm đến nghiên cứu của Ryle.

Năm 1948 Ryle là giảng viên vật lý và năm 1949 ông được bầu vào ban giám hiệu Cao đẳng Trinity. Cùng lúc, ông làm việc cùng với Tony Hewish và thực tế là bốn thành viên khác tham gia vào nhóm nghiên cứu của ông trong giai đoạn 1948-52.

Năm 1959 trường đại học ghi nhận kết quả nghiên cứu của Ryle và bổ nhiệm ông làm một giáo sư mới về thiên văn vô tuyến.

Trong những năm 1964-1971 Martin Ryle là chủ tịch ủy ban 40 của Hiệp hội Thiên văn Quốc tế và năm 1972 ông được bầu làm nhà thiên văn Hoàng gia.

Năm 1947 Ryle cưới vợ là Rowena Palmer và vợ chồng ông có hai con gái là Alison và Claire và một con trai là John. Gia đình ông thích du ngoạn trên những chiếc thuyền buồm nhỏ và Ryle đã tự thiết kế và chế tạo ra hai chiếc thuyền buồm.

Martin Ryle là hội viên Hội Hoàng gia London (1952), viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học và Văn học Hoàng gia Đan Mạch (1968),Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1971) và Viện Hàn lâm Leopoldina Đức (1974), viện sĩ nước ngoài danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Mỹ (1970). Ông là giảng viên Halley của Đại học Oxford (1955) và giảng viên Bakerian của Hội Hoàng gia London (1958).

Ryle đã được trao tặng Huy chương Hughes của Hội Hoàng gia London (1954), Huy chương Van der Pol của URSI (1963), Huy chương vàng của Hội Thiên văn Hoàng gia London (1964), Huy chương Henry Draper của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ (1965), Giải thưởng Holweck của Hội Vật lý Pháp (1965), Giải thưởng Morris N. Liebmann của Viện Kỹ thuật điện và điện tử (1971), Huy chương Faraday của Viện Kỹ thuật điện (1971), Huy chương Popov của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1971), Huy chương Michelson của Viện Franklin (1971), Huy chương Hoàng gia của Hội Hoàng gia London (1973) và Huy chương Bruce của Hội Thiên văn Thái Bình Dương. Ông là tiến sĩ khoa học danh dự của Đại học Strathclyde (1968), Đại học Oxford (1969) và Đại học Nicholas Copernicus ở Turin (1973).

Antony Hewish sinh ngày 11 tháng 5 năm 1924 tại Fowey (Cornwall) và là con út của một gia đình có ba con trai. Cha ông là một chủ ngân hàng. Ông lớn lên ở Newquay trên bờ biển Đại Tây Dương và môi trường nuôi dưỡng tình yêu của ông đối với biển và thuyền. Ông học ở Cao đẳng Hoàng đế thuộc Taunton và đến Đại học Cambridge năm 1942. Từ năm 1943 đến năm 1946, ông tham gia phục vụ chiến tranh tại Cơ sở máy bay Hoàng gia ở Farnborough và Cơ sở nghiên cứu viễn thông ở Malvern. Ông còn nghiên cứu các thiết bị đo đạc, tính toán và rađa tác chiến. Trong giai đoạn này, Hewish đã cùng làm việc với Martin Ryle.

Năm 1946 Hewish quay trở lại Cambridge và tốt nghiệp Đại học Cambridge năm 1948. Sau đó, ông tham gia ngay vào nhóm nghiên cứu của Ryle tại Phòng thí nghiệm Cavendish. Hewish nhận bằng tiến sĩ chuyên ngành năm 1952 và trở thành nghiên cứu viên tại Cao đẳng Gonville và Caius. Năm 1961 ông chuyển đến Cao đẳng Churchill làm giám đốc nghiên cứu vật lý. Hewish là giảng viên đại học (1961-1969), phó giáo sư (1969-1971) và giáo sư thiên văn vô tuyến từ năm 1971 cho đến lúc ông nghỉ hưu năm 1989. Sau khi Ryle bị ốm đau năm 1977, Hewish được coi là người lãnh đạo của nhóm thiên văn vô tuyến Cambridge và là người phụ trách Đài Thiên văn vô tuyến Mullard từ năm 1982 đến năm 1988.

Quyết định của Hewish bắt đầu nghiên cứu thiên văn vô tuyến chịu ảnh hưởng bởi kinh nghiệm thời chiến của ông về điện tử và ăng ten và bởi một trong các thầy giáo của ông là Jack Ratcliffe. Ratcliffe lúc đó là trưởng nhóm vật lý vô tuyến tại Phòng thí nghiệm Cavendish. Ratcliffe đã từng dạy Hewish về lý thuyết điện từ ở trường đại học và Hewish gặp lại thầy giáo của mình ở Malvern.

Nghiên cứu đầu tiên của Hewish liên quan đến sự lan truyền của bức xạ qua môi trường trong suốt không đồng nhất và ông duy trì mối quan tâm này trong suốt cuộc đời khoa học của mình. Khi hai “sao” vô tuyến đầu tiên được phát hiện, Hewish nhận thấy rằng ánh sáng lấp lánh của chúng có thể được sử dụng để thăm dò các điều kiện trong tầng điện ly. Ông đã phát triển lý thuyết nhiễu xạ bằng các màn điều biến pha và thiết lập các giao thoa kế vô tuyến để sử dụng các ý tưởng của mình. Hewish đã tiến hành các phép đo đầu tiên về độ cao và các tính chất vật lý của các đám mây plasma trong tầng điện ly và đánh giá các tốc độ gió trong vùng này. Tiếp theo phát hiện ánh sáng lấp lánh giữa các hành tinh do nhóm của ông thực hiện ở Cambridge, ông đã phát triển các phương pháp tương tự để tiến hành các phép đo đầu tiên về gió Mặt Trời và sau đó chúng đã được triển khai ở Mỹ, Nhật Bản và ấn Độ trong một thời gian dài. Ông cũng chỉ ra cách sử dụng ánh sánh lấp lánh giữa các hành tinh để thu được độ phân giải góc rất cao trong thiên văn vô tuyến. Độ phân giải này tương đương với độ phân giải của một giao thoa kế với đường đáy (baseline) 1 000 km. Điều này khi đó chưa thể đạt được trong lĩnh vực này. Để sử dụng kỹ thuật này trên một mẫu lớn của các thiên hà vô tuyến, ông nghĩ ra ý tưởng về một ăng ten dãy thực hiện theo từng pha (phased-array) khổng lồ cho một quan sát bầu trời chính. Điều này đòi hỏi những khả năng thiết bị khác nhiều so với những khả năng thiết bị của bất cứ kính thiên văn vô tuyến hiện hành nào. Thiết bị phải có độ nhạy rất cao ở các bước sóng lớn và nhiều chùm (multi-beam) cho việc lặp lại các quan sát toàn bộ bầu trời từ ngày này sang ngày khác.

Tác giả bài viết: PGS. TS. Nguyễn Quang Học

February 12, 2012

0 responses on "nobel vật lý 1974"

Leave a Message

Your email address will not be published.

inPhysic is an online education site which imparts knowledge and skills to million of users worldwide.

280 an dương vương, phường 4 quận 5,  Hồ Chí Minh
0976 905 317
[email protected] | [email protected] | [email protected]

Top Categories

january, 2021

No Events

top
X