• No products in the cart.

  • LOGIN

nobel vật lý 1972

nobel vật lý 1972

John Bardeen (1908-1991),

Leon Neil Cooper (1930-)

Và John Robert Schrieffer(1931-)

Giải Nobel Vật lý năm 1972 được trao cho ba công dân Mỹ John Bardeen tại Đại học Illinois ở Urrbana (IL, Mỹ), Leon Neil Cooper tại Đại học Brown ở Providence (RI, Mỹ) và John Robert Schrieffer tại Đại học Pensylvania ở Phikadelphia (PA, Mỹ) “do sự phối hợp phát triển của họ về lý thuyết siêu dẫn (thường được gọi là lý thuyết BCS)”.

John Bardeen sinh ngày 23 tháng 5 năm 1908 tại Madison (Wisconsin). Ông là con trai của tiến sĩ Charles R. Bardeen và Althea Harmer Bardeen. Cha ông là giáo sư giải phẫu và hiệu trưởng Trường Y khoa thuộc Đại học Wisconsin. Mẹ kế của ông là Kenelm McCauley. Ông học các trường công ở Madison, Trường Washington ở Madison (1914-1917), trường trung cao thuộc trường đại học ở Madison (1917-1921) và trường Trung cao Trung tâm Madison (1921-1923). Sau đó, ông theo học một khóa học về kỹ thuật điện tại Đại học Wisconsin. Trong lúc làm việc tại Phòng kỹ thuật của Công ty điện Western tại Chicago, ông học thêm một học kỳ nữa và tốt nghiệp đại học ngành kỹ thuật điện năm 1928. Ông tiếp tục ở Wisconsin và làm trợ lý nghiên cứu về kỹ thuật điện trong hai năm. Khi đó, ông nghiên cứu về các vấn đề toán học trong địa vật lý ứng dụng và về sự bức xạ từ các anten. Ông nhận được bằng thạc sĩ về kỹ thuật điện tại Đại học Wisconsin năm 1929. Trong thời kỳ này, ông bắt đầu làm quen với lý thuyết lượng tử với sự hướng dẫn của giáo sư J. H. Van Vleck.

Bardeen nghiên cứu địa vật lý tại Phòng thí nghệm nghiên cứu và triển khai Gulf ở Pittsburgh dưới dự hướng dẫn của giáo sư Leo J. Peter. Trong ba năm (1930-1933) ở Pittsburgh, ông nghiên cứu về sự phát triển của các phương pháp nhằm giải thích các bản đồ (survey) từ và hấp dẫn. Đó là một thời kỳ kích thích mà khi đó các phương pháp địa vật lý lần đầu tiên được áp dụng cho thăm dò dầu.

Vì các quan tâm của Bardeen nằm trong khoa học lý thuyết, năm 1933 ông rời khỏi vị trí của mình tại Gulf để làm nghiên cứu sinh về vật lý toán trong ba năm (1933-1935) tại Đại học Princeton. Dưới sự hướng dẫn của giáo sư E. P. Wigner, ông bắt đầu quan tâm đến vật lý chất rắn. Bardeen nhận được bằng tiến sĩ chuyên ngành vât lý toán tại Đại học Princeton  năm 1936. Trước khi hoàn thành luận án tiến sĩ của mình (đề tài luận án về lý thuyết công thoát của các kim loại) ông được đề nghị làm cộng tác viên tại Đại học Harvard. Bardeen sử dụng ba năm tiếp theo (1935-1938) ở Đại học Harvard để nghiên cứu cùng với các giáo sư Van Vleck và Bridgman về các bài toán liên kết và độ dẫn điện trong các kim loại. Ông còn nghiên cứu về mật độ mức của các hạt nhân.

Từ năm 1938 đến năm 1941, Bardeen là một trợ lý giáo sư vật lý tại Đại học Minnesota và từ năm 1941 đến năm 1945 ông là một nhà vật lý dân sự tại Phòng thí nghiệm quân nhu hải quân ở Washington D. C. Trong những năm chiến tranh, ông nghiên cứu về các trường ảnh hưởng của tàu thủy nhằm áp dụng cho quân nhu và phá mìn dưới nước. Sau chiến tranh, từ năm 1945 ông làm việc trong nhóm nghiên cứu chất rắn tại Phòng thí nghiệm Điện thoại Bell và ở đó cho đến năm 1951 khi ông được bổ nhiệm làm giáo sư kỹ thuật điện và vật lý tại Đại học Illinois. Từ năm 1959 ông cũng là một thành viên của Trung tâm Cao học của Đại học Illinois. Ông làm việc tại Đại học Illinois từ năm 1951 đến năm 1975. Từ năm 1975 đến lúc ông qua đời vào năm 1991, ông là giáo sư danh dự của Đại học Illinois.

Các lĩnh vực nghiên cứu chính của Bardeen từ năm 1945 bao gồm độ dẫn điện trong bán dẫn và kim loại, tính chất bề mặt của bán dẫn, lý thuyết siêu dẫn và sự khuếch tán của nguyên tử trong chất rắn. Giải Nobel Vật lý năm 1956 được trao cho John Bardeen, Walter H. Brattain và William Shockley do “các nghiên cứu về các bán dẫn và phát minh ra hiệu ứng transistor” được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Điện thoại Bell. Transistor là một linh kiện có khả năng khuếch đại dòng điện. Transistor thực hiện các chức năng điện tử tương tự như ống chân không trong vô tuyến và truyền hình nhưng nhỏ hơn nhiều và tiêu thụ năng lượng ít hơn nhiều. Transistor trở thành khối xây dựng cho toàn bộ ngành điện tử hiện đại và nền tảng cho công nghệ vi mạch và máy tính. Năm 1957 Bardeen cùng hai đồng nghiệp là L. N. Cooper và J. R. Schrieffer đưa ra giải thích thành công đầu tiên về tính siêu dẫn. Hiện tượng siêu dẫn đã được thực nghiệm phát hiện năm 1908. Đó là tính chất của một số kim loại không còn điện trở ở những nhiệt độ rất thấp. Từ đó, ông tập trung nghiên cứu mở rộng và ứng dụng lý thuyết siêu dẫn.

Bardeen là thành viên Hội đồng cố vấn khoa học của Tổng thống Mỹ (1950-1962), thành viên ban giám đốc của Hãng Xerox ở Rochester (New York) (1961-1074) và cố vấn cho Hãng Xerox (1952-1982). Ông là giáo sư Đại học Leiden (Hà Lan) năm 1975, giáo sư thỉnh giảng Đại học Karlsruhe (1978), Đại học Grenoble (1981), Đại học California ở Santa Barbara (1981,1984) và Đại học Nihon ở Tokyo (Nhật Bản) (1982). Bardeen còn là thành viên Hội đồng Khoa học của Nhà Trắng (1982-1983).

John Bardeen là tiến sĩ danh dự của Cao đẳng Union (1955), Đại học Wisconsin (1960), Đại học Bách khoa Rose (1966), Đại học Western Reserve (1966), Đại học Glasgow (1967), Đại học Princeton (1968), Đại học Bách khoa Rensselaer (1969), Đại học Notre Dame (1970), Đại học Harvard (1973), Đại học Minnesota (1973), Đại hock Illinois (1974), Đại học Michigan (1974), Đại học Pennsylvania (1976), Đại học Delhi (ấn Độ) (1977), Viện Công nghệ ấn Độ ở Madras (ấn Độ)(1977), Đại học Cambridge (Anh) (1977), Đại học Georgetown (1980), Đại học Andrews (1980) và Đại học Clarkson (1981).

Bardeen đã được trao tặng Huy chương Stuart Ballentine (1952) của Viện Franklin; Giải thưởng Buckley (1954) của Hội Vật lý Mỹ; Huy chương John Scott ở Philadelphia (1955); Giải Nobel Vật lý (1956) cùng với W. H. Brattain và W. Shockley; Giải thưởng Vincent Bendix (1964) của Hội Giáo dục kỹ thuật Mỹ; Huy chương Khoa học Quốc gia (1965); Giải thưởng Michelson-Morley(1968) của Case-Western Reserve; Huy chương danh dự (1971) của Viện Kỹ sư điện và điện tử; Giải Nobel Vật lý (1972) cùng với L. N. Cooper và J. R. Schrieffer; Huy chương James Madison (1973) ở Princeton; Đại sảnh danh dự của các nhà phát minh quốc gia (1974); Huy chương Franklin (1975) của Viện Franklin; Huy chương Tự do của Tổng thống (1977); Giải thưởng Washington (1983) của Hội Kỹ thuật Western; Các giải thưởng của những người sáng lập (1984) của Viện Hàn lâm Kỹ thuật Quốc gia; Giải thưởng Lomonosov (1988) của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô và Giải thưởng Harold Pender (1988) của Đại học Pennsylvania. Lưu ý rằng Huy chương Tự do là phần thưởng cao quí nhất do Tổng thống Mỹ trao cho một công dân.

John Bardeen là hội viên Hội Vật lý Mỹ (chủ tịch Hội trong các năm 1968, 1969); thành viên danh dự của IEEE; viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia, Viện Hàn lâm Kỹ thuật Quốc gia và Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ; hội viên Hội Triết học Mỹ; hội viên nước ngoài của Hội Hoàng gia London; viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm Khoa học ấn Độ; thành viên danh dự của Viện Vật lý London; thành viên nước ngoài của Viện Điện tử và viễn thông ấn Độ; viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Nhật Bản; tiến sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Venezuela; viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Viện Hàn lâm Khoa học Pakistan; viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Hungari và Viện Hàn lâm Khoa học áo.

Năm 1938 Bardeen cưới vợ là Jane Maxweel. Vợ chồng ông có ba con là James M,. William A. và Elizabeth A.  John Bardeen mất ngày 30 tháng 1 năm 1991.

Leon Neil Cooper sinh ngày 28 tháng 2 năm 1930 tại New York. Ông học ở Đại học Columbia, nhận bằng cử nhân (A.B.) năm 1951, bằng thạc sĩ (A.M.) năm 1953 và bằng tiến sĩ chuyên ngành (Ph. D.) năm 1954 đều ở Đại học Columbia. Cooper trở thành thành viên của Viện Cao học (1954-1955), cộng tác viên nghiên cứu của Đại học Illinois (1955-1957) và trợ lý giáo sư của Đại học Quốc gia Ohio (1957-1958). Tại Đại học Brown, ông là phó giáo sư (1958-1962), giáo sư (1962-1966), giáo sư đại học Henry Ledyard Goddard (1956-1974) và giáo sư khoa học Thomas J. Watson, Sr. (từ 1974). Cooper là thực tập sinh sau tiến sĩ của NSF (1954-1955), thực tập sinh nghiên cứu của Liên đoàn Alfred P. Sloan (1959-1966) và thực tập sinh của Liên đoàn John Simon Guggenheim (1965-1966).

Giáo sư Cooper là giám đốc Trung tâm Khoa học thần kinh của Đại học Brown. Trung tâm này được thành lập năm 1973 nhằm nghiên cứu các hệ thần kinh động vật và não người. Cooper là giám đốc đầu tiên của trung tâm này. Các nhà nghiên cứu ở đây có nhiều chuyên môn khác nhau như toán ứng dụng, y sinh học, ngôn ngữ và vật lý. Trung tâm của Cooper có các nghiên cứu sinh, thực tập sinh sau tiến sĩ quan tâm đến các khoa học thần kinh và nhận thức. Họ tìm hiểu chức năng nhớ và các chức năng khác của bộ não và từ đó tạo ra một mô hình khoa học về cách để não người hoạt động.

Cooper là giáo sư thỉnh giảng của nhiều trường đại học và các lớp học mùa hè. Ông là cố vấn cho nhiều cơ quan chính phủ, tổ chức công nghiệp và giáo dục. Ông tham gia nhiều hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế. Cooper là thành viên Hội đồng điều hành của Hội mạng thần kinh quốc tế. Ông là thành viên Hội đồng khoa học quốc phòng.

Cooper là tiến sĩ khoa học danh dự của Đại học Columbia (1973), Đại học Sussex (1973), Đại học Illinois (1974), Đại học Brown (1974), Cao đẳng Gustavus Adolphus (1975), Đại học Quốc gia Ohio (1976), Đại học Pierre và Marie Curie ở Paris (1977).

Leon N. Cooper đã được trao tặng Giải thưởng Comstock (1968) (cùng với J. R. Schrieffer) của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia; Giải thưởng Nobel Vật lý (1972)(cùng với J. Bardeen và J. R. Schrieffer) của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển; Giải thưởng xuất sắc (1974) của Đại học Columbia; Huy chương Descartes (1977) của Viện Hàn lâm Paris và Đại học Rene Descartes; Giải thưởng John Jay (1985) của Cao đẳng Columbia; Giải thưởng vì thành tựu nổi bật (1990) của Đại học Columbia. Ông được đưa tên vào các cuốn sách danh nhân như “Who’s Who”, “Who’s Who in America”, “Who’s who in the World”,…

Gíao sư Cooper là hội viên Hội Vật lý Mỹ, Hội Triết học Mỹ, Hội Khoa học thần kinh, Hiệp hội vì sự tiến bộ khoa học Mỹ, Phi Beta Kappa và Sigma XI. Ông là nhà tài trợ cho Liên đoàn của các nhà khoa học Mỹ. Ông là viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ và Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Mỹ.

Gíao sư Cooper là đồng sáng lập và đồng chủ tịch của Nestor – một cơ sở công nghiệp hàng đầu trong việc áp dụng mạng thần kinh cho các ứng dụng quân sự và thương mại.

Robert Schrieffer sinh ngày 31 tháng 5 năm 1931 tại Oak Park (Illinois), Ông là con trai của John H. Schrieffer và Luis (née Anderson). Gia đình ômg chuyển đến Manhasset (New York) năm 1946 và Eustis (Florida) năm 1947. ở đó, gia đình ông hoạt động tích cực trong ngành công nghiệp cam.

Sau khi tốt nghiệp trường trung cao Eustis năm 1949, Schrieffer vào học Viện Công nghệ Massachusetts MIT. Trong hai năm đầu, ông học chủ yếu về kỹ thuật điện và sau đó chuyển sang học vật lý. Ông hoàn thành luận văn tốt nghiệp đại học về cấu trúc nhiều lớp trong các nguyên tử nặng dưới sự hướng dẫn của giáo sư John C. Slater. Khi ông bắt đầu làm nghiên cứu sinh tại Đại học Illinois, ông cùng làm việc với giáo sư J. Bardeen ngay từ lúc đầu. Sau khi nghiên cứu một bài toán liên quan đến độ dẫn điện trên các bề mặt bán dẫn, Schrieffer sử dụng một năm trong phòng thí nghiệm để áp dụng lý thuyết cho một số bài toán bề mặt. Trong năm thứ ba làm nghiên cứu sinh, ông phối hợp với Bardeen và Cooper phát triển lý thuyết siêu dẫn mà nó tạo thành nội dung luận án tiến sĩ của ông.

Schrieffer sử dụng năm học 1957-1958 làm thực tập sinh của Liên đoàn Khoa học Quốc gia tại Đại học Birmingham và Viện Niels Bohr ở Copenhagen và ở đó ông tiếp tục nghiên cứu siêu dẫn. Sau đó, ông làm trợ lý giáo sư trong một năm tại Đại học Chicago rồi quay trở lại làm việc tại Đại học Illinois vào năm 1959. Năm 1960 ông quay trở lại Viện Niels Bohr trong một chuyến thăm mùa hè. Trong thời gian đó, ông hứa hôn với Anne Grete Thomsen và họ tổ chức đám cưới vào lễ Giáng sinh năm 1960.

Năm 1962 Schrieffer đến làm việc tại Đại học Pénnylvania ở Philadelphia và ông được bổ nhiệm làm giáo sư Mary Amanda Wood về vật lý năm 1964. Năm 1980 ông là giáo sư Đại học California ở Santa Barbara và năm 1984 ông là giáo sư hiệu trưởng của trường này. Schrieffer là giám đốc Viện Vật lý lý thuyết ở Santa Barbara từ năm 1984 đến năm 1989. Năm 1992 ông là giáo sư Đại học Quốc gia Florida và nhà khoa học đứng đầu của Phòng thí nghiệm Từ trường cao Quốc gia.

Schrieffer là tiến sĩ danh dự của Đại học Kỹ thuật Munich, Đại học Geneva, Đại học Pennsylvania, Đại học Illinois, Đại học Cincinnati, Đại học Tel-Aviv và Đại học Alabama.

John Robert Schrieffer là viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ, Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Mỹ, Viện Hàn lâm Khoa học và Văn học Hoàng gia Đan Mạch và Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Ông là hội viên Hội Triết học Mỹ.

Schrieffer được trao tặng phần thưởng Guggenheim, Giải thưởng Vật lý chất rắn Oliver E. Buckley, Giải thưởng Comstock của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia; Giải thưởng Nobel Vật lý (1972) cùng với J. Bardeen và L. N. Cooper; Huy chương John Ericsson; Giải thưởng thành tựu Alumi của Đại học Illinois và Huy chương Khoa học Quốc gia (1984). Nghiên cứu chính của ông gần đay là siêu dẫn nhiệt độ cao, các điện tử tương quan mạnh và động lực của các điện tử trong từ trường mạnh.

Schrieffer có ba con là Bolette, Paul và Regina.

Siêu dẫn là một hiện tượng vật lý xảy ra trong nhiều vật liệu kim loại. Các kim loại ở trạng thái thông thường của chúng có một điện trở nào đó mà độ lớn của nó thay đổi theo nhiệt độ. Khi người ta làm lạnh một kim loại thì điện trở của nó suy giảm. Trong nhiều vật liệu kim loại có thể xảy ra hiện tượng là điện trở không chỉ suy giảm mà còn có thể thình lình biến mất ở một nhiệt độ tới hạn nào đó đặc trưng cho vật liệu.

Hiện tượng này do nhà vật lý người Hà Lan Kamerlingh Onnes phát hiện từ năm 1911. Kamerlingh Onnes đã được trao Giải Nobel Vật lý năm 1913 do những phát minh của ông.

Thuật ngữ siêu dẫn xem xét sự biến mất hoàn toàn của điện trở mà nó sau đó đã được xác minh với độ chính xác rất cao. Một vòng chì mang một dòng điện chừng vài trăm ampe được giữ lạnh trong thời gian 2,5 năm mà không đo được sự thay đổi nào của cường độ dòng điện.

Một phát minh quan trọng trong những năm 1930 chỉ ra rằng một từ trường ngoài không thể thâm nhập vào một vật siêu dẫn. Nếu ta đặt một nam châm vĩnh cửu vào trong một chén làm bằng vật liệu siêu dẫn, nam châm sẽ “bay” trong không khí ở trên chén và lơ lửng trên biên (cushion) của các đường từ trường riêng của nó.Hiệu ứng này có thể được sử dụng làm một ví dụ cho việc chế tạo các ổ trục không có ma sát (friction-free).

Nhiều tính chất của một kim loại thay đổi khi nó trở thành chất siêu dẫn và các hiệu ứng mới xuất hiện mà chúng không có sự tương đương giữa trạng thái thông thường và trạng thái siêu dẫn. Nhiều thực nghiệm đã chứng tỏ rằng xuất hiện một trạng thái mới cơ bản của kim loại.

Sự chuyển vào trạng thái siêu dẫn xảy ra ở các nhiệt độ cực thấp chỉ khoảng vài độ trên không độ tuyệt đối. Do đó, hiếm có các ứng dụng thực tế của hiện tượng siêu dẫn trong quá khứ và tính siêu dẫn chỉ được xem xét trong các phòng thí nghiệm nhiệt độ thấp. Điều này nhanh chóng thay đổi và việc sử dụng các thiết bị siêu dẫn ngày càng tăng lên. Các nam châm siêu dẫn thường được sử dụng chẳng hạn như trong các máy gia tốc hạt. Nghiên cứu siêu dẫn trong những năm gần đây dẫn đến những tiến bộ cơ bản trong kỹ thuật đo và có nhiều khả năng ứng dụng trong công nghệ máy tính. Các nhà máy hiện đại có sử dụng siêu dẫn trong kỹ thuật nặng cũng đã đưa vào hoạt động. Có thể nghĩ đến việc vận chuyển điện năng tới các thành phố lớn trên thế giới bằng các đường dây siêu dẫn và khả năng chế tạo các tàu hỏa cực nhanh chạy trên các ray siêu dẫn.

Siêu dẫn đã được nghiên cứu bằng thực nghiệm từ sau phát minh của Kamerlingh Onnes vào năm 1911. Tuy nhiên, câu hỏi về cơ chế vật lý của hiện tượng siêu dẫn là một bí ẩn đối với các nhà vật lý cho đến cuối những năm 1950. Nhiều nhà vật lý nổi tiếng đã tìm cách giải thích hiện tượng siêu dẫn về mặt lý thuyết nhưng không thành công. Các khó khăn liên quan đến bản chất rất đặc biệt của cơ chế. Trong một kim loại thông thường, các điện tử sắp xếp hỗn độn hơi giống với các nguyên tử trong một chất khí và lý thuyết về nguyên lý khá đơn giản. Trong các kim loại siêu dẫn, các thực nghiệm gợi ý sự tồn tại của một trạng thái tập thể của các điện tử dẫn. Đó là trạng thái trong đó các điện tử được ghép cặp mạnh và chuyển động của chúng có tương quan với nhau sao cho có một trạng thái kết hợp khổng lồ với kích thước vĩ mô chứa số điện tử rất lớn. Người ta không biết cơ chế vật lý liên quan đến một sự ghép cặp như thế trong một thời gian dài. Một bước quan trọng hướng đến lời giải của bài toán siêu dẫn diễn ra năm 1950 khi người ta dựa trên cơ sở cả lý thuyết và thực nghiệm phát hiện thấy rằng tính siêu dẫn cần phải liên kết sự ghép cặp của các điện tử với dao động của các nguyên tử trong mạng tinh thể. Các điện tử dẫn được ghép cặp với nhau qua các dao động này. Xuất phát từ sự ghép cặp cơ bản này của các điện tử, Bardeen, Cooper và Schrieffer đã phát triển lý thuyết siêu dẫn của họ. Lý thuyết này (sau gọi là lý thuyết BCS) công bố năm 1957 và đưa ra một giải thích lý thuyết hoàn chỉnh đối với hiện tượng siêu dẫn.

Theo lý thuyết BCS, sự ghép cặp của các điện tử với các dao động mạng dẫn đến sự tạo thành các cặp liên kết của các điện tử. Các cặp này đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết. Bức tranh đầy đủ về cơ chế siêu dẫn xuất hiện khi Bardeen, Cooper và Schrieffer chỉ ra rằng chuyển động của các cặp khác có sự tương quan rất mạnh và điều này dẫn đến sự tạo thành một trạng thái kết hợp khổng lồ trong đó có một số lớn điện tử. Chuyển động trật tự này của các điện tử ở trạng thái siêu dẫn tương phản với chuyển động riêng hỗn độn của các điện tử ở trạng thái thông thường và điều này làm cho hiện tượng siêu dẫn có những tính chất đặc biệt của nó.

Lý thuyết BCS  cùng với những mở rộng và phát triển của lý thuyết này sau đó đã thành công trong việc giải thích các tính chất của các chất siêu dẫn. Lý thuyết này cũng dự đoán các hiệu ứng mới và nó thúc đẩy nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm siêu dẫn. Những phát triển tiếp theo về nghiên cứu siêu dẫn mở ra các lĩnh vực mới và dẫn đến các phát minh mới mà chúng đã được sử dụng trong một số các phương pháp lý thú đặc biệt là trong phạm vi của các phép đo. Sự phát triển tiếp trong lĩnh vực siêu dẫn đã xác nhận hoàn toàn phạm vi rộng lớn và giá trị của các khái niệm và ý tưởng trong bài báo cơ bản do Bardeen, Cooper và Schrieffer công bố năm 1957.

Sự phát triển trong lĩnh vực siêu dẫn trong gần một thế kỷ đã xác nhận vai trò, vị trí của lý thuyết siêu dẫn do Bardeen, Cooper và Schrieffer sáng tạo.

Tác giả bài viết: PGS. TS. Nguyễn Quang Học

February 12, 2012

0 responses on "nobel vật lý 1972"

Leave a Message

Your email address will not be published.

inPhysic is an online education site which imparts knowledge and skills to million of users worldwide.

280 an dương vương, phường 4 quận 5,  Hồ Chí Minh
0976 905 317
[email protected] | [email protected] | [email protected]

Top Categories

january, 2021

No Events

top
X