• No products in the cart.

  • LOGIN

Nobel vật lý 1967

nobel vật lý 1967

Hans Albrecht bethe (1906-)

Giải Nobel Vật lý năm 1967 được trao cho giáo sư người Mỹ gốc Đức Hans Albrecht Bethe tại Đại học Cornell ở Ithaca (New York, Mỹ) “do những đóng góp của ông cho lý thuyết phản ứng hạt nhân đặc biệt là những phát minh của ông liên quan đến sự phát sinh năng lượng trong các sao”.

Hans Albrecht Bethe sinh ngày 2 tháng 7 năm 1906 tại Strasbourg (Alsace-Lorraine, Đức). Ông học ở trường trung học cổ điển ở Frankfurt từ năm 1915 đến năm 1924. Bethe học Đại học Frankfurt trong hai năm và Đại học Munich trong hai năm rưỡi và nhận bằng tiến sĩ chuyên ngành vật lý lý thuyết vào tháng 7 năm 1928. Luận án tiến sĩ của ông do giáo sư Arrnold Sommerfeld hướng dẫn.

Sau đó, Bethe hướng dẫn thực hành vật lý tại Frankfurt và Stuttgart mỗi nơi một học kỳ. Từ mùa thu năm 1929 đến mùa thu năm 1933 ông làm việc ở Đại học Munich. Trong thời gian này, ông được cấp các học bổng của Hội đồng Giáo dục Quốc tế đi thực tập tại Cambridge (Anh) vào mùa thu năm 1930 và tại Rome vào các mùa xuân năm 1931 và năm 1932. Trong học kỳ đông năm học 1932-1933 ông là quyền trợ giáo (acting assistant professor) tại Đại học Tubingen. Sau khi thiết lập chế độ phát xít ở Đức, ông rời khỏi Đức sang Anh vào tháng 10 năm 1933. ở đó ông giữ một vị trí tạm thời là giảng viên tại Đại học Manchester trong năm học 1933-1934 và thực tập tại Đại học Briston vào mùa thu năm 1934. Tháng 2 năm 1935 ông được chỉ định là trợ giáo tại Đại học Cornell (Mỹ) và trở thành giáo sư vào mùa hè năm 1937. Khi chiến tranh thế giới lần thứ II xảy ra, ông làm việc tại Phòng thí nghiệm Phóng xạ tại MIT nghiên cứu rađa vi sóng và sau đó tại Phòng thí nghiệm Khoa học Los Alamos nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử. Bethe có hai lần đến làm việc tại Đại học Columbia, một lần làm việc tại Đại học Cambridge và một lần làm việc tại CERN và Copenhagen.

Công trình chính của Bethe liên quan đến lý thuyết hạt nhân nguyên tử. Cùng với Peierls ông phát triển lý thuyết của deuteron vào năm 1934 và mở rộng lý thuyết này vào năm 1949. Ông nghiên cứu lý thuyết phản ứng hạt nhân trong những năm 1935-1938 và dự đoán nhiều tiết diện phản ứng. Liên quan đến công trình này, ông phát triển lý thuyết của Bohr về hạt nhân pha trộn theo kiểu định lượng hơn. Công trình này và những hiểu biết lúc đó về lý thuyết và thực nghiệm hạt nhân đã được Bethe tổng kết trong ba bài báo đăng trên tạp chí Tổng quan vật lý hiện đại (Review of Modern Physics). Các bài báo này trong nhiều năm được sử dụng như là cẩm nang cho các nhà vật lý hạt nhân. Lúc đó, các nhà vật lý hạt nhân gọi các bài báo này là kinh thánh của Bethe.

Công trình của Bethe về các phản ứng hạt nhân đã đưa ông đến phát hiện ra các phản ứng mà chúng phát sinh ra năng lượng trong các sao. Phản ứng hạt nhân quan trọng nhất trong các sao chói lọi là phản ứng cacbon-nitơ trong khi phản ứng hạt nhân quan trọng nhất trong Mặt Trời và các sao mờ là phản ứng proton-proton. Thành tựu chính của Bethe liên quan đến kết quả này là phát hiện ra các phản ứng hạt nhân khả dĩ khác. Giải Nobel nhằm ghi nhận công trình này của ông cũng như công trình khác của ông về các phản ứng hạt nhân nói chung.

Năm 1955 Bethe quay trở lại lý thuyết hạt nhân nhưng nhấn mạnh đến một vấn đề khác. Ông nghiên cứu về lý thuyết của chất hạt nhân mà mục đích của nó nhằm giải thích các tính chất của hạt nhân nguyên tử theo các lực tác động giữa các nucleon.

Trước các công trình của Bethe về vật lý hạt nhân, ông quan tâm chủ yếu đến vật lý nguyên tử và lý thuyết va chạm. Chẳng hạn như ông viết một bài báo tổng quan trong Sổ tay vật lý (Handbuch der Physik) trong đó ông bổ khuyết những thiếu hụt trong kiến thức lúc đó và cập nhật những kiến thức mới. Trong lý thuyết va chạm, Bethe phát triển một lý thuyết đơn giản và mạnh về các va chạm không đàn hồi để xác định năng lượng nghỉ (stopping power) của vật chất đối với các hạt nhanh tích điện và do đó cung cấp một công cụ cho các nhà vật lý hạt nhân. Đối với các va chạm mạnh hơn, ông cùng với Heitler xác định sự sinh cặp điện tử bởi các tia gamma có năng lượng cao.

Bethe còn nghiên cứu về lý thuyết chất rắn. Ông xem xét sự tách ra của các mức năng lượng nguyên tử khi một nguyên tử được đưa vào trong một tinh thể. Bethe có đóng góp quan trọng cho lý thuyết kim loại, đặc biệt là ông đã phát triển lý thuyết trật tự và hỗn độn trong hợp kim.

Bethe cưới con gái của một nhà vật lý nổi tiếng về tia X là P. P. Ewald. Vợ chồng ông có hai con là Henry và Monica.

Sự hiểu biết sâu rộng của Bethe về hạt nhân nguyên tử cùng với một tài năng hiếm có trong việc nắm bắt bản chất của một vấn đề vật lý và tìm ra các cách thức để giải quyết nó một cách nhanh chóng đã giải thích được vì sao Bethe có thể thực hiện nhanh chóng công trình mà nhờ đó ông được trao tặng Giải Nobel. Bethe bắt đầu công trình này sau một hội nghị diễn ra ở Washington vào tháng 3 năm 1938 và bài báo mô tả nó một cách chi tiết đã được công bố vào đầu tháng 9 cùng năm. Trong hội nghị này và sau đó ông đã thu được kiến thức vật lý thiên văn cần thiết. Kiến thức này chủ yếu dựa vào một công trình mở đầu của Eddington vào năm 1926. Theo Eddington phần  trong cùng của Mặt Trời là khí nóng và phần lớn khí này là hyđro và heli. Do nhiệt độ cực cao (khoảng 20 triệu độ), các nguyên tử hyđro và heli tách ra thành các điện tử và hạt nhân mà hỗn hợp của chúng mặc dù có mật độ cao (gần gấp 80 lần mật độ của nước) nó thực sự giống như một chất khí. Người ta biết đến năng lượng cần để duy trì trạng thái này từ các phép đo bức xạ đi đến Trái Đất. Xét về tổng thể sự phát sinh năng lượng là rất lớn nhưng nó rất chậm so với kích thước của Mặt Trời. Một bóng điện 60 oát sẽ tương ứng với khoảng 300 tấn vật chất Mặt Trời. Sự cháy rất chậm này cùng với năng lượng rất cao giải phóng ra từ một trọng lượng nhiên liệu đã cho làm cho Mặt Trời trở thành một nguồn năng lượng bền vững cần thiết cho các quá trình địa chất và sự tồn tại lâu dài của sự sống trên Trái Đất.

Trước khi tiến đến các quá trình hạt nhân mà chúng theo Bethe chắc chắn là nguồn gốc phát sinh năng lượng của Mặt Trời và các sao tương tự, cần chú ý đến hai câu hỏi có liên quan. Thứ nhất là tại sao các quá trình hạt nhân này chậm ở trong Mặt Trời và nhanh trong các lò phản ứng nguyên tử không kể đến bom nguyên tử? Thứ hai là tại sao chúng không tồn tại trong các điều kiện thông thường? Câu trả lời là các hạt nhân được bảo vệ chống lại các hạt nhân khác bởi sự đẩy nhờ vào các điện tích của chúng cùng với phạm vi tác dụng cực nhỏ của lực hạt nhân. Điều này ngụ ý rằng một proton cần phải có vận tốc cực cao để tiến gần đến hạt nhân khác đến mức xảy ra phản ứng hạt nhân. Nếu không có điều đó đối với hiệu ứng đường hầm cơ học lượng tử do Gamow (người cần được xem như người mở đường chính của Bethe về việc áp dụng vật lý hạt nhân cho thiên văn học) nghiên cứu, thậm chí các vận tốc của các proton ở nhiệt độ cao của Mặt Trời không thể sinh ra bất kỳ quá trình hạt nhân nào. Nhưng nhờ hiệu ứng này, các phản ứng chậm đòi hỏi có thể xảy ra. Trường hợp của các lò phản ứng nguyên tử thì khác vì trong các lò này các phản ứng hạt nhân sinh ra bởi các neutron. Các neutron không có điện tích và không bị dừng lại bởi điện tích của các hạt nhân. Các neutron có thời gian sống ngắn và do đó chúng rất ít khi xuất hiện trong các điều kiện thông thường và cả trong Mặt Trời.

Khi Bethe bắt đầu công trình nghiên cứu của mình về sự phát sinh năng lượng trong các sao có sự thiếu hụt quan trọng trong hiểu biết về hạt nhân và do đó rất khó tìm ra lời giải của bài toán. Bằng cách kết hợp lý thuyết đang phát triển của mình và chứng cứ thực nghiệm chưa hoàn chỉnh và so sánh lặp lại các kết luận của mình với các hệ quả thiên văn của các kết luận này, Bethe đã thành công trong việc thiết lập cơ chế phát sinh năng lượng trong Mặt Trời và các sao tương tự tốt đến mức chỉ cần những điều chỉnh nhỏ khi mà nhiều năm sau hiểu biết thực nghiệm đòi hỏi đã có tiến bộ đáng kể và các máy tính điện tử trở nên phổ biến cho việc tính số.

Một phần rất quan trọng trongcông trong công trình của Bethe là loại trừ một số lớn các quá trình hạt nhân có thể có trong các điều kiện ở tâm Mặt Trời và chỉ còn giữa lại hai quá trình khả dĩ. Quá trình thứ nhất bắt đầu với hai proton va chạm và tạo thành một hạt nhân hyđro nặng và lượng điện tích dư biến thành một điện tử dương. Sau khi bắt một vài proton, quá trình này tạo thành một hạt nhân heli từ bốn proton. Bằng cách đó năng lượng giải phóng ra từ một trọng lượng hyđro đã cho lớn hơn gần 20 triệu lần so với năng lượng sinh ra bởi sự cháy cùng một trọng lượng cacbon thành đioxit cacbon. Quá trình thứ hai phức tạp hơn. Nó đòi hỏi sự có mặt của cacbon. Tuy nhiên, cacbon thực tế sẽ không cháy mà tác động như một chất xúc tác. Kết quả của quá trình này cũng giống như quá trình thứ nhất. Cần lưu ý rằng quá trình thứ nhất do Atkinson đề xuất từ một vài năm trước đó và von Weizsacker cũng có trao đổi về quá trình này sau đó. Von Weizsaker còn xem xét quá trình thứ hai một cách độc lập và gần như đồng thời với Bethe. Nhưng cả Atkinson và von Weizsaker không đưa ra được một sự phân tích tỷ mỷ về hai quá trình này và các quá trình khả dĩ khác để chứng tỏ rằng chỉ có hai quá trình nói trên có vai trò đối với sự phát sinh năng lượng trong Mặt Trời và các sao tương tự.

Công trình của Bethe trong nhiều năm là nền tảng chính cho việc nghiên cứu các quá trình xảy ra ở bên trong Mặt Trời và các sao. Trong những năm gần đây, một nhóm các nhà vật lý thiên văn đã cố gắng tìm hiểu xem điều gì xảy ra khi một sao sử dụng hết hyđro của nó và bằng cách đó làm sáng tỏ điều bí ẩn về nguồn gốc của các nguyên tố hóa học.

Giải thích của giáo sư Hans Bethe về nguồn năng lượng của Mặt Trời và các sao là một trong ứng dụng quan trọng nhất của vật lý cơ bản hiện nay mà nó dẫn đến một sự thay đổi cơ bản trong hiểu biết của chúng ta về vũ trụ.

Tác giả bài viết: PGS. TS. Nguyễn Quang Học

February 12, 2012

0 responses on "Nobel vật lý 1967"

Leave a Message

Your email address will not be published.

Nobel vật lý 1967

nobel vật lý 1967

Hans Albrecht bethe (1906-)

Giải Nobel Vật lý năm 1967 được trao cho giáo sư người Mỹ gốc Đức Hans Albrecht Bethe tại Đại học Cornell ở Ithaca (New York, Mỹ) “do những đóng góp của ông cho lý thuyết phản ứng hạt nhân đặc biệt là những phát minh của ông liên quan đến sự phát sinh năng lượng trong các sao”.

Hans Albrecht Bethe sinh ngày 2 tháng 7 năm 1906 tại Strasbourg (Alsace-Lorraine, Đức). Ông học ở trường trung học cổ điển ở Frankfurt từ năm 1915 đến năm 1924. Bethe học Đại học Frankfurt trong hai năm và Đại học Munich trong hai năm rưỡi và nhận bằng tiến sĩ chuyên ngành vật lý lý thuyết vào tháng 7 năm 1928. Luận án tiến sĩ của ông do giáo sư Arrnold Sommerfeld hướng dẫn.

Sau đó, Bethe hướng dẫn thực hành vật lý tại Frankfurt và Stuttgart mỗi nơi một học kỳ. Từ mùa thu năm 1929 đến mùa thu năm 1933 ông làm việc ở Đại học Munich. Trong thời gian này, ông được cấp các học bổng của Hội đồng Giáo dục Quốc tế đi thực tập tại Cambridge (Anh) vào mùa thu năm 1930 và tại Rome vào các mùa xuân năm 1931 và năm 1932. Trong học kỳ đông năm học 1932-1933 ông là quyền trợ giáo (acting assistant professor) tại Đại học Tubingen. Sau khi thiết lập chế độ phát xít ở Đức, ông rời khỏi Đức sang Anh vào tháng 10 năm 1933. ở đó ông giữ một vị trí tạm thời là giảng viên tại Đại học Manchester trong năm học 1933-1934 và thực tập tại Đại học Briston vào mùa thu năm 1934. Tháng 2 năm 1935 ông được chỉ định là trợ giáo tại Đại học Cornell (Mỹ) và trở thành giáo sư vào mùa hè năm 1937. Khi chiến tranh thế giới lần thứ II xảy ra, ông làm việc tại Phòng thí nghiệm Phóng xạ tại MIT nghiên cứu rađa vi sóng và sau đó tại Phòng thí nghiệm Khoa học Los Alamos nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử. Bethe có hai lần đến làm việc tại Đại học Columbia, một lần làm việc tại Đại học Cambridge và một lần làm việc tại CERN và Copenhagen.

Công trình chính của Bethe liên quan đến lý thuyết hạt nhân nguyên tử. Cùng với Peierls ông phát triển lý thuyết của deuteron vào năm 1934 và mở rộng lý thuyết này vào năm 1949. Ông nghiên cứu lý thuyết phản ứng hạt nhân trong những năm 1935-1938 và dự đoán nhiều tiết diện phản ứng. Liên quan đến công trình này, ông phát triển lý thuyết của Bohr về hạt nhân pha trộn theo kiểu định lượng hơn. Công trình này và những hiểu biết lúc đó về lý thuyết và thực nghiệm hạt nhân đã được Bethe tổng kết trong ba bài báo đăng trên tạp chí Tổng quan vật lý hiện đại (Review of Modern Physics). Các bài báo này trong nhiều năm được sử dụng như là cẩm nang cho các nhà vật lý hạt nhân. Lúc đó, các nhà vật lý hạt nhân gọi các bài báo này là kinh thánh của Bethe.

Công trình của Bethe về các phản ứng hạt nhân đã đưa ông đến phát hiện ra các phản ứng mà chúng phát sinh ra năng lượng trong các sao. Phản ứng hạt nhân quan trọng nhất trong các sao chói lọi là phản ứng cacbon-nitơ trong khi phản ứng hạt nhân quan trọng nhất trong Mặt Trời và các sao mờ là phản ứng proton-proton. Thành tựu chính của Bethe liên quan đến kết quả này là phát hiện ra các phản ứng hạt nhân khả dĩ khác. Giải Nobel nhằm ghi nhận công trình này của ông cũng như công trình khác của ông về các phản ứng hạt nhân nói chung.

Năm 1955 Bethe quay trở lại lý thuyết hạt nhân nhưng nhấn mạnh đến một vấn đề khác. Ông nghiên cứu về lý thuyết của chất hạt nhân mà mục đích của nó nhằm giải thích các tính chất của hạt nhân nguyên tử theo các lực tác động giữa các nucleon.

Trước các công trình của Bethe về vật lý hạt nhân, ông quan tâm chủ yếu đến vật lý nguyên tử và lý thuyết va chạm. Chẳng hạn như ông viết một bài báo tổng quan trong Sổ tay vật lý (Handbuch der Physik) trong đó ông bổ khuyết những thiếu hụt trong kiến thức lúc đó và cập nhật những kiến thức mới. Trong lý thuyết va chạm, Bethe phát triển một lý thuyết đơn giản và mạnh về các va chạm không đàn hồi để xác định năng lượng nghỉ (stopping power) của vật chất đối với các hạt nhanh tích điện và do đó cung cấp một công cụ cho các nhà vật lý hạt nhân. Đối với các va chạm mạnh hơn, ông cùng với Heitler xác định sự sinh cặp điện tử bởi các tia gamma có năng lượng cao.

Bethe còn nghiên cứu về lý thuyết chất rắn. Ông xem xét sự tách ra của các mức năng lượng nguyên tử khi một nguyên tử được đưa vào trong một tinh thể. Bethe có đóng góp quan trọng cho lý thuyết kim loại, đặc biệt là ông đã phát triển lý thuyết trật tự và hỗn độn trong hợp kim.

Bethe cưới con gái của một nhà vật lý nổi tiếng về tia X là P. P. Ewald. Vợ chồng ông có hai con là Henry và Monica.

Sự hiểu biết sâu rộng của Bethe về hạt nhân nguyên tử cùng với một tài năng hiếm có trong việc nắm bắt bản chất của một vấn đề vật lý và tìm ra các cách thức để giải quyết nó một cách nhanh chóng đã giải thích được vì sao Bethe có thể thực hiện nhanh chóng công trình mà nhờ đó ông được trao tặng Giải Nobel. Bethe bắt đầu công trình này sau một hội nghị diễn ra ở Washington vào tháng 3 năm 1938 và bài báo mô tả nó một cách chi tiết đã được công bố vào đầu tháng 9 cùng năm. Trong hội nghị này và sau đó ông đã thu được kiến thức vật lý thiên văn cần thiết. Kiến thức này chủ yếu dựa vào một công trình mở đầu của Eddington vào năm 1926. Theo Eddington phần  trong cùng của Mặt Trời là khí nóng và phần lớn khí này là hyđro và heli. Do nhiệt độ cực cao (khoảng 20 triệu độ), các nguyên tử hyđro và heli tách ra thành các điện tử và hạt nhân mà hỗn hợp của chúng mặc dù có mật độ cao (gần gấp 80 lần mật độ của nước) nó thực sự giống như một chất khí. Người ta biết đến năng lượng cần để duy trì trạng thái này từ các phép đo bức xạ đi đến Trái Đất. Xét về tổng thể sự phát sinh năng lượng là rất lớn nhưng nó rất chậm so với kích thước của Mặt Trời. Một bóng điện 60 oát sẽ tương ứng với khoảng 300 tấn vật chất Mặt Trời. Sự cháy rất chậm này cùng với năng lượng rất cao giải phóng ra từ một trọng lượng nhiên liệu đã cho làm cho Mặt Trời trở thành một nguồn năng lượng bền vững cần thiết cho các quá trình địa chất và sự tồn tại lâu dài của sự sống trên Trái Đất.

Trước khi tiến đến các quá trình hạt nhân mà chúng theo Bethe chắc chắn là nguồn gốc phát sinh năng lượng của Mặt Trời và các sao tương tự, cần chú ý đến hai câu hỏi có liên quan. Thứ nhất là tại sao các quá trình hạt nhân này chậm ở trong Mặt Trời và nhanh trong các lò phản ứng nguyên tử không kể đến bom nguyên tử? Thứ hai là tại sao chúng không tồn tại trong các điều kiện thông thường? Câu trả lời là các hạt nhân được bảo vệ chống lại các hạt nhân khác bởi sự đẩy nhờ vào các điện tích của chúng cùng với phạm vi tác dụng cực nhỏ của lực hạt nhân. Điều này ngụ ý rằng một proton cần phải có vận tốc cực cao để tiến gần đến hạt nhân khác đến mức xảy ra phản ứng hạt nhân. Nếu không có điều đó đối với hiệu ứng đường hầm cơ học lượng tử do Gamow (người cần được xem như người mở đường chính của Bethe về việc áp dụng vật lý hạt nhân cho thiên văn học) nghiên cứu, thậm chí các vận tốc của các proton ở nhiệt độ cao của Mặt Trời không thể sinh ra bất kỳ quá trình hạt nhân nào. Nhưng nhờ hiệu ứng này, các phản ứng chậm đòi hỏi có thể xảy ra. Trường hợp của các lò phản ứng nguyên tử thì khác vì trong các lò này các phản ứng hạt nhân sinh ra bởi các neutron. Các neutron không có điện tích và không bị dừng lại bởi điện tích của các hạt nhân. Các neutron có thời gian sống ngắn và do đó chúng rất ít khi xuất hiện trong các điều kiện thông thường và cả trong Mặt Trời.

Khi Bethe bắt đầu công trình nghiên cứu của mình về sự phát sinh năng lượng trong các sao có sự thiếu hụt quan trọng trong hiểu biết về hạt nhân và do đó rất khó tìm ra lời giải của bài toán. Bằng cách kết hợp lý thuyết đang phát triển của mình và chứng cứ thực nghiệm chưa hoàn chỉnh và so sánh lặp lại các kết luận của mình với các hệ quả thiên văn của các kết luận này, Bethe đã thành công trong việc thiết lập cơ chế phát sinh năng lượng trong Mặt Trời và các sao tương tự tốt đến mức chỉ cần những điều chỉnh nhỏ khi mà nhiều năm sau hiểu biết thực nghiệm đòi hỏi đã có tiến bộ đáng kể và các máy tính điện tử trở nên phổ biến cho việc tính số.

Một phần rất quan trọng trongcông trong công trình của Bethe là loại trừ một số lớn các quá trình hạt nhân có thể có trong các điều kiện ở tâm Mặt Trời và chỉ còn giữa lại hai quá trình khả dĩ. Quá trình thứ nhất bắt đầu với hai proton va chạm và tạo thành một hạt nhân hyđro nặng và lượng điện tích dư biến thành một điện tử dương. Sau khi bắt một vài proton, quá trình này tạo thành một hạt nhân heli từ bốn proton. Bằng cách đó năng lượng giải phóng ra từ một trọng lượng hyđro đã cho lớn hơn gần 20 triệu lần so với năng lượng sinh ra bởi sự cháy cùng một trọng lượng cacbon thành đioxit cacbon. Quá trình thứ hai phức tạp hơn. Nó đòi hỏi sự có mặt của cacbon. Tuy nhiên, cacbon thực tế sẽ không cháy mà tác động như một chất xúc tác. Kết quả của quá trình này cũng giống như quá trình thứ nhất. Cần lưu ý rằng quá trình thứ nhất do Atkinson đề xuất từ một vài năm trước đó và von Weizsacker cũng có trao đổi về quá trình này sau đó. Von Weizsaker còn xem xét quá trình thứ hai một cách độc lập và gần như đồng thời với Bethe. Nhưng cả Atkinson và von Weizsaker không đưa ra được một sự phân tích tỷ mỷ về hai quá trình này và các quá trình khả dĩ khác để chứng tỏ rằng chỉ có hai quá trình nói trên có vai trò đối với sự phát sinh năng lượng trong Mặt Trời và các sao tương tự.

Công trình của Bethe trong nhiều năm là nền tảng chính cho việc nghiên cứu các quá trình xảy ra ở bên trong Mặt Trời và các sao. Trong những năm gần đây, một nhóm các nhà vật lý thiên văn đã cố gắng tìm hiểu xem điều gì xảy ra khi một sao sử dụng hết hyđro của nó và bằng cách đó làm sáng tỏ điều bí ẩn về nguồn gốc của các nguyên tố hóa học.

Giải thích của giáo sư Hans Bethe về nguồn năng lượng của Mặt Trời và các sao là một trong ứng dụng quan trọng nhất của vật lý cơ bản hiện nay mà nó dẫn đến một sự thay đổi cơ bản trong hiểu biết của chúng ta về vũ trụ.

Tác giả bài viết: PGS. TS. Nguyễn Quang Học

February 12, 2012

0 responses on "Nobel vật lý 1967"

Leave a Message

Your email address will not be published.

inPhysic is an online education site which imparts knowledge and skills to million of users worldwide.

280 an dương vương, phường 4 quận 5,  Hồ Chí Minh
0976 905 317
[email protected] | [email protected] | [email protected]

Top Categories

january, 2021

No Events

top
X