• No products in the cart.

  • LOGIN

Nobel vật lý 1965

Giải nobel vật lý 1965

Sin-itiro Tomonaga (1906-1979),

Julian Schwinger (1918-1994)

và Richard P. feynman (1918-1988)

Giải Nobel Vật lý năm 1965 được trao cho giáo sư người Nhật Bản Sin -Itiro Tomonaga (1906-1979) tại Đại học Sư phạm Tokyo ở Tokyo (Nhật Bản), giáo sư người Mỹ Julian Schwinger (1918-1994) tại Đại học Havard ở Cambridge (Massachusetts, Mỹ) và giáo sư người Mỹ Richard P. Feynman (1918-1988) tại Viện Công nghệ California ở Pasadena (California, Mỹ) ” do những công trình cơ bản của họ trong điện động lực lượng tử với những hệ quả quan trọng cho vật lý hạt cơ bản”.

Sin-Itiro Tomonaga sinh ngày 31 tháng 3 năm 1906 tại Tokyo (Nhật Bản), Ông là con trai cả của Sanjuro Tomonaga và Hide Tomonaga. Năm 1913 gia đình ông chuyển đến Kyoto khi cha ông được chỉ định là giáo sư triết học tại Đại học Hoàng gia Kyoto. Từ đó, ông lớn lên và trưởng thành tại Kyoto. Ông là một cựu học sinh của một trường cao trung nổi tiếng ở Kyoto vì trường này đã đào tạo ra một số nhân vật lãnh đạo hàng đầu của Nhật Bản trước chiến tranh.

Tomonaga tốt nghiệp đại học (Rigakushi) ngành vật lý năm 1929 tại Đại học Hoàng gia Kyoto cùng với một trong những người bạn thân của mình là tiến sĩ Hideki Yukawa ( Nobel Vật lý năm 1949). Ông đã thực hiện luận án sau đại học trong ba năm tại cùng một trường đại học và sau đó được tiến sĩ Yoshio Nishina chỉ định là một cộng tác viên nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu vật lý và hóa học ở Tokyo. ở đó, dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Nishina ông bắt đầu nghiên cứu trong một lĩnh vực mới phát ttiển ở giới hạn tận cùng của vật lý lý thuyết cà điện động lực lượng tử. Bài báo của ông về sự sinh cặp quang điện là một bài báo nổi tiếng của ông trong thời kỳ này.

Tomonaga ở Leipzig ( Đức) từ năm 1937 đến năm 1939 để nghiên cứu vật lý hạt nhân và lý thuyết trường lượng tử trong sự hợp tác với nhóm lý thuyết của tiến sĩ W. Heisenberg. ở đó ông đã công bố bài báo mang tên là ” Innere Reibung und Warmeleitfahigkeit der Kernmaterie” mà nó được chọn làm tên đề tài luận án tiến sĩ khoa học (Rigakuhakushi) của ông và ông bảo vệ luận án này tại Đại học Hoàng gia Tokyo tháng 12 năm 1939.

Năm 1940 tiến sĩ Tomonaga hướng sự quan tâm của mình vào lý thuyết mezon và phát triển lý thuyết tương tác trung gian ( intermediate coupling theory) để làm sáng tỏ cấu trúc của đám mây mezon xung quanh nucleon. Ông gia nhập Đại học Bunrika Tokyo ( nó được sát nhập vào Đại học Sư phạm Tokyo năm 1949) với tư cách là giáo sư vật lý vào năm 1941. Năm 1942 ông là người đầu tiên đề xuất hình thức luận hiệp biến ( covariant formulation ) của lý thuyết trường lượng tử, trong đó khái niệm trạng thái lượng tử được mở rộng để trở thành hiệp biến trong lý thuyết tương đối.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ II, tiến sĩ Tomonaga quan tâm phát triển lý thuyết của các hệ vi sóng (microwave system). Ông đã giải quyết được bài toán về chuyển động của các điện tử trong manhetron và cũng đã phát triển một lý thuyết thống nhất của các hệ bao gồm các ống dẫn sóng và hốc cộng hưởng.

Ngay sau chiến tranh, Tomonaga quay trở lại nghiên cứu khoa học với một chương trình trong đó trước tiên ông tổng kết và mở rộng lý thuyết tương tác trung gian và thứ hai là áp dụng lý thuyết trường hiệp biến cho các hệ vật lý thực. Mục đích của ông nhằm nghiên cứu bản chất của phản ứng trường trong lý thuyết mezon cũng như điện động lực lượng tử. Trước cả thực nghiệm Lamb-Rutherford, bằng tính toán mô hình ông tin tưởng rằng khó khăn về sự phân kỳ trong điện động lực lượng tử có thể vượt qua bằng thủ thuật khối lượng và điện tích hữu hạn nhờ vào các phản ứng trường theo một cách nào đó. Đó là chỉ là một bước tiếp theo để ông phát triển lý thuyết tái chuẩn hóa với hình thức luận hiệp biến ở tay phải của ông và sự trợ giúp thực nghiệm ở tay trái của ông.

Tiến sĩ Tomonaga đã được mời đến Viện Cao học Princeton năm 1949 và ở đó ông tham gia vào nfghiên cứu một hệ fecmion một chiều. Ông là người đầu tiên đã thành công trong việc làm sáng tỏ các dao động tập thể của một hệ nhiều hạt về cơ học lượng tử và mở ra một giới hạn vât lý lý thuyết mới cho các bài toán hiện đại về lý thuyết hệ nhiều hạt. Năm 1955 ông công bố một lý thuyết cơ bản cho các chuyển động tập rhể trong cơ học lượng tử.

Tiến sĩ Tomonaga là người lãnh đạo trong việc thành lập Viện Nghiên cứu hạt nhân  tại Đại học Tokyo năm 1955. Từ năm 1956 đến năm 1962 ông là Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Tokyo và từ năm 1963 ông là Chủ tịch Hội đồng khoa học của Nhật Bản và Giám đốc Viện Nghiên cứu quang học tại Đại học Sư phạm Tokyo. Ông còn giữ nhiều trọng trách trong nhiều hội đồng của chính phủ về nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách.

Tomonaga đã nhhạn nhiều vinh dự như Giải thưởng của Viện Hàn lâm Nhật Bản (1948), Huân chương Văn hóa (1952), Huy chương Lomonosov của Liên Xô (1964).

Sin-Itiro Tomonaga là viện sĩ Viện Hàn lâm Nhật Bản, ViÊnj Hàn lâm “Leopoldina”của Đức, viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, viện sĩ thông tấn Bayerische Akademie der Wissenschaften, viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ.

Tomonaga công bố rộng rãi các công trình của mình trên các tạp chí khoa học về nhiều chủ đề như điện động lực lượng tử, lý thuyết mezonm, vật lý hạt nhân, tia vũ trụ và lý thuyết hệ nhiều hạt. Cuốn sách ” Cơ học lượng tử” của ông công bố năm 1949 và được dịch sang tiếng Anh năm 1963.

Tomonaga cưới vợ là Ryoko Sekiguchi. Vợ ông là con gái của tiến sĩ K. Sekiguchi –  giám đốc của Đài Thiên văn Metropolitan Tokyo. Vợ chồng ông có hai con trai là Atsushi và Makoto và một con gái. Năm 1965 con gái của ông cưới chồng là tiến sĩ Y. Nagashima – cộng tác viên nghiên cứu của Khoa Vật lý, Đại học Rochester.

Julian Schwinger sinh ngày 12 tháng 2 năm 1918 tại New York. Định hướng chính của cuộc đời ông đã được xác định từ lúc ông còn trẻ bởi mối quan tâm mạnh mẽ đến vật lý. Từ lần công bố công trình đầu tiên vào năm 16 tuổi, ông đã thể hiện như một nhà vật lý chuyên nghiệp. Ông học ở hệ thống trường công ở thành phố New York. Nhờ mối quan hệ tốt với một số bạn bè trong đó đặc biệt là I. I. Rabi ở Đại học Columbia, ông chuyển đến Đại học Columbia và tốt nghiệp trường này. Ông nhận bằng tiến sĩ chuyên ngành năm 1939 mặc dù ông đã viết luận án tiến sĩ của mình trước đó khoảng 2 đến 3 năm.

Hai năm tiếp theo, ông làm việc tại Đại học California ở Berkeley lúc đầu là cộng tác viên nghiên cứu và sau đó là trợ lý cho J. R. Oppenheimer. Khi nổ ra cuộc chiến tranh Thái bình dương, Schwinger là một giáo viên thực hành giảng dạy vật lý sơ cấp cho các sinh viên kỹ thuật tại Đại học Purdue.

Chiến tranh hạn chế nhiều đến hoạt động của Phòng thí nghiêm Phóng xạ tại Viện Công nghệ Massachusetts MIT ở Cambridge. Trong thời gian này, lúc đầu ông nghiên cứu các bài toán rađa điện từ như một nhà vật lý hạt nhân. Nhưng ông sớm suy nghĩ đến vật lý hạt nhân theo ngôn ngữ của kỹ thuật điện. Điều đó rốt cuộc nổi lên là cách diễn đạt phạm vi thích hợp của sự tán xạ hạt nhân. Sau đó, ông chú ý đến các nguồn vi sóng lớn sẵn có và bắt đầu suy nghĩ đến các máy gia tốc điện tử. Điều này dẫn đến xem xét vấn đề về sự phóng xạ bởi các điện tử trong từ trường. Trong nghiên cứu bài toán này ở mức cổ điển, ông cho rằng phản ứng của trường điện tử làm thay đổi các tính chất của hạt cơ bản trong đó có khối lượng của chúng. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của điện động lực lượng tử.

Sau khi kết thúc chiến tranh, Schwinger được bổ nhiệm làm phó giáo sư tại Đại học Harvard. Hai năm sau ông trở thành giáo sư của trường này. Cũng năm đó, ông cưới vợ là Clarice Carrol người Boston.

Trong những năm tiếp theo, ông nghiên cứu theo một số hướng khác nhau nhưng tập trung vào các vấn đề lý thuyết chung hơn là các vấn đề riêng liên quan đến thực nghiệm mà chúng gần với công trình trước đây của ông. Một cách tiếp cận suy đoán đối với bài toán vật lý có những nguy hiểm của nó nhưng nó có thể có kết quả tốt. Schwinger đã đưa ra một dự đoán sớm từ năm 1957 về sự tồn tại của hai neutrino khác nhau tương ứng liên kết với điện tử và muon. Điều này về sau được thực nghiệm xác nhận. Một dự đoán khác của ông là tất cả các tương tác yếu được phát ra bởi các hạt nặng tích điện có spin đơn vị và điều này còn phải chờ được thực nghiệm xác nhận.

Trong những năm sau đó, Schwinger xem xét tầm quan trọng thực tế của một lý thuyết logic hiện tượng (phenomenological theory) về các hạt cơ bản. Ông đã phát minh và phát triển lý thuyết nguồn (source theory) một cách có hệ thống. Lý thuyết này liên quan như nhau đến các hạt tương tác mạnh, photon và graviton và do đó đưa ra một cách tiếp cận chung đối với tất cả các hiện tượng vật lý. Nghiên cứu này được mô tả trong một cuốn sách gồm hai tập của ông mang tên là “Các hạt, nguồn và trường”.

Julian Schwinger đã được trao tặng Giải thưởng của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ (1949), Giải thưởng Einstein (1951) và Huy chương Khoa học Quốc gia Mỹ (1964). Ông là tiến sĩ khoa học danh dự của Đại học Purdue (1961) và Đại học Harvard (1962). Schwinger là viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ và là một người tài trợ của tạp chí “Thông báo của các nhà khoa học nguyên tử”.

Richard P. Feynman sinh ngày 11 tháng 5 năm 1918 tại New York. Ông tốt nghiệp MIT năm 1939 và bảo vệ luận án tiến sĩ chuyên ngành tại Đại học Princeton năm 1942. Ông là trợ lý nghiên cứu tại Princeton (1940-1941), giáo sư vật lý lý thuyết tại Đại học Cornell (1945-1950), giáo sư thỉnh giảng và sau sđó là giáo sư vật lý lý thuyết tại Viện Công nghệ California (1950-1959).

Feynman là hội viên Hội Vật lý Mỹ và Hiệp hội vì sự tiến bộ khoa học Mỹ, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia. Năm 1965 ông được bầu làm hội viên nước ngoài của Hội khoa học Hoàng gia London. Ông đã được trao tặng Giải thưởng Albert Einstein (1954) của Đại học Princeton, Giải thưởng Einstein của Cao đẳng Y khoa và Giải thưởng Lawrence (1962).

Feynman cưới vợ là Gweneth Howarth. Vợ chồng ông có một con trai là Carl Richard (sinh năm 1961) và một con gái là Michelle Catherine (sinh năm 1968).

Richard Feynman mất ngày 15 tháng 2 năm 1988 tại Los Angeles và hưởng thọ 69 tuổi.

Richard P. Feynman là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng bán chạy (best-selling) như “Những bài giảng Feynman về vật lý (The Feynman Lectures “(1963), “Chắc là ông Feynman nói đùa (Surely You’re Joking, Mr. Feynman” (1985) và “Điện động lực lượng tử QED: Lý thuyết kỳ lạ về ánh sáng và vật chất (QED: The Strange Theory of Light and Matter” (1986). Cuốn “Các bài giảng Feynman về vật lý” là một trong những cuốn sách giáo khoa và giáo trình vật lý tốt nhất. Ông đã từng là thành viên ủy ban của Tổng thống Mỹ điều tra về thảm họa Challenger.

Feynman mất tại Trung tâm y tế Los Angeles sau tám năm chiến đấu với bệnh ung thư bụng. Ông là một nhà giáo đại chúng và nhiệt thành. Mặc dù mắc bệnh hiểm nghèo, ông vẫn tiếp tục giảng dạy tại Viện Công nghệ California cho đến trước khi mất gần hai tuần.

Feynman là thành viên của nhóm nghiên cứu phát triển bom nguyên tử đầu tiên tại Phòng thí nghiệm khoa học Los Alamos.

Feynman nổi tiếng rộng rãi bởi sự tò mò không tài nào thỏa mãn được, sự dí dỏm nhẹ nhàng, trí tuệ xuất chúng và khí chất hay vui đùa của ông. Những phẩm chất này được thể hiện rất rõ trong cuốn hồi ký nổi tiếng của ông mang tên là “Chắc là ông Feynman nói đùa”. Cuốn sách này nằm trong danh sách sách bán chạy nhất trong 14 tuần liền.

Nhà vật lý của MIT Philip Morrison gọi Feynman là “nhà vật lý lý thuyết độc đáo nhất của thời đại chúng ta” (theo thông báo của hãng tin UPI). Feynman gọi Giải Nobel của ông là “nỗi đau ở trong cổ hay điều khó chịu (a pain in the neck)”. Morison nói Feynman “chân thật một cách kỳ lạ với chính bản thân ông và mọi người”. Morrison bổ sung thêm rằng “ông (Feynman) không thích nghi lễ hoặc sự khoa trương… ông cực kỳ bình dị. Ông thích ngôn ngữ nhiều màu sắc và nói đùa”.

Feynman lôi cuốn sự chú ý rộng rãi trong lúc ủy ban của Roger nghe thông báo về tai nạn tàu không gian Challenger năm 1986. Vì không hài lòng với các câu trả lời mập mờ của các nhân chứng và các thủ tục quan liêu chậm chạp, Feynman đã làm một thí nghiệm không chuẩn bị trước  nhằm chứng tỏ một điểm mấu chốt trong điều tra. Ông nhúng một mảnh vật liệu của tên lửa khởi động vào trong một cốc nước đá và nhanh chóng chỉ ra rằng nó mất toàn bộ khả năng hồi phục ở các nhiệt độ thấp.

Trong thông báo cuối cùng của ủy ban điều tra tai nạn, Feynman kết tội NASA “chơi cò quay Nga” với sự sống của các nhà du hành vũ trụ.

Tính tò mò hay sự ham hiểu biết của ông thể hiện rõ ràng khi trong cuộc phỏng vấn với phương tiện thông tin đại chúng vào năm 1987 ông nói rằng công việc của ông ở ủy ban điều tra tai nạn tàu Challenger khơi dậy mối quan tâm của ông về sự phức tạp của việc quản lý một tổ chức lớn như NASA đến mức nếu ông bắt đầu lại cuộc sống của mình ông có thể bị lôi cuốn vào nghiên cứu quản lý chứ không phải là nghiên cứu vật lý.

Vị chủ tịch của Caltech trước đây là Marvin Goldberger (ông này về sau là giám đốc Viện Cao học Princeton nói rằng Feynman là “một nhân vật kiệt xuất trong vật lý thế kỷ XX, luôn luôn tò mò, luôn luôn giản dị, luôn luôn sôi nổi, luôn luôn nhiệt tình giúp đỡ nhằm chia sẻ sự hiểu biết sâu sắc của mình với các sinh viên và đồng nghiệp”.

Feynman được trao Giải Nobel năm 1965 cùng với Sin-Ichiro Tomonaga  Julian Schwunger. Ba người này đã tiến hành nghiên cứu một cách độc lập về các bài toán trong lý thuyết điện động lực lượng tử mà nó mô tả cách thức để các nguyên tử phát sinh bức xạ. Feynman đã xây dựng lại hầu như toàn bộ cơ học lượng tử và điện động lực theo cách riêng của mình, đưa ra cách phân tích các tương tác nguyên tử thông qua các giản đồ đơn giản (gọi là giản đồ Feynman). Phương pháp này cho đến nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi.

Các điện tử của  một nguyên tử chuyển động theo các định luật của cơ học lượng. Các định luật này được thiết lập vào năm 1925 và những năm tiếp theo. Đối với nguyên tử hyđro mà nó chỉ có một điện tử và do đó nó là nguyên tử đơn giản nhất đối với nghiên cứu lý thuyết, việc tính toán chuyển động của điện tử trong điện trường của hạt nhân dẫn đến các kết quả với độ chính xác đến mức trong vòng 20 năm người ta không thể dùng thực nghiệm để tìm ra bất ký sai số nào của lý thuyết. Tuy nhiên, năm 1947 Lamb và Rutherford phát hiện thấy rằng một số mức năng lượng của nguyên tử hyđro mà chúng trùng nhau trong nghiên cứu lý thuyết thực tế dịch chuyển một chút đối với nhau.

Một kết quả quan trọng của nghiên cứu do Tomonaga, Schwinger và Feynman thực hiện là giải thích của họ về sự dịch chuyển Lamb. Tuy nhiên, nghiên cứu của họ tổng quát hơn nhiều và có ý nghĩa phổ biến chung đối với vật lý. Họ đã giải thích và dự đoán một số hiện tượng quan trọng. Nghiên cứu của ba nhà vật lý nói trên là sự tiếp tục của một số nghiên cứu diễn ra vào cuối những năm 1920 nhằm tìm ra các định luật cơ học lượng tử tổng quát mà nhờ chúng các nguyên tử và nói riêng là các điện tử gây ra các trường điện từ chẳng hạn như phát ra ánh sáng và bị ảnh hưởng bởi các trường nhưthế. Bằng cách áp dụng cơ học lượng tử không chỉ cho vật chất mà còn cho trường điện từ, Dirac, Heisenberg và Pauli đã đưa ra một lý thuyết gọi là điện động lực mà nó chứa đựng các định luật cơ học lượng tử đối với tương tác của các hạt tích điện (nói riêng là các điện tử) và trường điện từ. Nó thỏa mãn điều kiện quan trọng là cần phải phù hợp với thuyết tương đối.

Tuy nhiên, người ta sớm nhận ra rằng lý thuyết này có những nhược điểm cơ bản. Khi  tính một đại lượng quan trọng như sự đóng góp vào khối lượng của một điện tử bắt nguồn từ tương tác của nó với trường điện từ, có thể thu được kết quả vô cực và do đó là vô dụng. Một khó khăn tương tự xảy ra đối với điện tích của điện tử.

Do tầm quan trọng đặc biệt của việc có một điện động lực lượng tử có ích hơn, nhiều nhà vật lý lý thuyết tìm cách vượt qua những khó khăn nói trên từ  những năm 1930 cho đến những năm 1940.

Một lĩnh vực nghiên cứu mới được mở đầu bằng các nghiên cứu của Tomonaga. Nghiên cứu của ông lúc đầu liên quan đến những đòi hỏi của thuyết tương đối. Trong một bài báo công bố năm 1943 và trong công trình sau đó do ông và các cộng sự thực hiện, ông đã đưa ra một cách diễn đạt mới của điện động lực lượng tử và các lý thuyết tương tự khác. Đó là một bước tiến quan trọng của điện động lực lượng tử.

Sự phát triển của điện động lực lượng tử chỉ được tạo ra như là hệ quả của phát minh dịch chuyển Lamb. Khi phát minh này được trình bày tại một hội nghị, ý kiến được thống nhất là hiệu ứng mới (dịch chuyển Lamb) có thể được giải thích bằng điện động lực lượng tử. Sự đúng đắn của ý kiến nói trên được chứng minh bởi một tính toán về sự dịch chuyển Lamb do Bethe thực hiện một thời gian ngắn sau hội nghị. Ngay khi Tomonaga biết thực nghiệm Lamb và bài báo của Bethe, ông nhận thấy rằng một bước quan trọng cần phải thực hiện là thay khối lượng thực nghiệm vào khối lương cơ học tưởng tượng mà nó xuất hiện trong các phương trình của điện động lực và tiến hành một sự tái chuẩn hóa tương tự đối với điện tích. Các số hạng bù mà  chúng được đưa vào khi đó trong các phương trình cần phải loại bỏ các vô cực. Tomonaga đã rút ra một công thức chính xác cho độ dịch chuyển Lamb mà nó cho các kết quả tính toán phù hợp với các phép đo.

Hầu như đồng thời với phát minh dịch chuyển Lamb, Kusch và cộng sự của mình là Foley đã phát hiện thấy rằng momen từ của điện tử lớn hơn một chút so với momen từ giả định trước đó. Khi sử dụng phương pháp tái chuẩn hóa, Schwinger đã chứng minh rằng một đóng góp dị thường nhỏ cần được thêm vào giá trị của momen từ nhận được cho đến khi đó. Tính toán của ông phù hợp với thực nghiệm. Tính toán của Schwinger là rất quan trọng cho việc giải thích đúng đắn các phép đo này.

Schwinger đã phát triển hình thức luận của điện động lực lượng tử mới trong một số bài báo quan trọng bằng cách sử dụng một phần các phương pháp tương tự với các phương pháp của Tomonaga. Ông cũng làm cho hình thức luận này có ích hơn đối với các tính toán thực tế.

Feynman đã sử dụng các phương pháp cơ bản hơn để giải các bài toán của điện động lực lượng tử. Ông đưa ra một hình thức luận mới mà ông làm cho nó rất có ích cho các tính toán thực tế bằng cách đưa vào một giải thích đồ thị gọi là các giản đồ Feynman. Các giản đồ này trở thành một đặc tính quan trọng của vật lý hiện đại. Trong mô tả do Feynman sử dụng, trường điện từ không xuất hiện rõ ràng lắm. Sự mô tả của ông rất có giá trị trong vật lý hạt cơ bản mà ở đó cần phải xem xét cả tương tác điện từ và các tương tác khác.

Khi xem xét tính đúng đắn của điện động lực lượng tử ở dạng mới của nó, người ta trước tiên cần phải nhận ra thành công kỳ lạ của lý thuyết này trong việc đưa ra các kết quả phù hợp với thực nghiệm. Đối với độ dịch chuyển Lamb và phần dị thường trong momen từ của điện tử, sự phù hợp trong phạm vi một vài phần trong một trăm nghìn tương ứng trong một triệu và không tìm ra một sự không phù hợp nào. Điện động lực lượng tử thực sự là một trong các lý thuyết vật lý chính xác nhất. Chứng cớ tiếp theo về khía cạnh này được đưa ra khi áp dụng lý thuyết cho nguyên tử positroni và hạt mu. Hình thức luận mới rất quan trọng cho các lĩnh vực vật lý khác ngoài vật lý hạt cơ bản như vật lý chất rắn, vật lý hạt nhân và cơ học thống kê.

Bằng cách đưa các ý tưởng và phương pháp mới vào vật lý cũ, các giáo sư Tomonaga, Schwinger và Feynman đã sáng tạo ra một điện động lực lwngj tử mới mà nó chiếm vị trí trung tâm trong vật lý. Lý thuyết này là độc nhất vô nhị trong việc kích thích nghiên cứu hiện đại. Tomonaga, Schwinger và Feynman đã có đóng góp cho việc mở rộng các phương pháp của lý thuyết này vào các lĩnh vực vật lý khác mà ở đó nó cũng rất quan trọng cho sự phát triển gần đây.

 

February 11, 2012

0 responses on "Nobel vật lý 1965"

Leave a Message

Your email address will not be published.

inPhysic is an online education site which imparts knowledge and skills to million of users worldwide.

280 an dương vương, phường 4 quận 5,  Hồ Chí Minh
0976 905 317
[email protected] | [email protected] | [email protected]

Top Categories

january, 2021

No Events

top
X